Đổi mới nghiệp vụ thư viện tại các nhà trường quân đội gắn với chuyển đổi số hiện nay
30/01/2026 - 15:47

BTĐKT - Trong các nhà trường quân đội (NTQĐ), thư viện giữ vai trò quan trọng trong bảo đảm nguồn tài liệu phục vụ giáo dục, đào tạo (GD,ĐT), nghiên cứu khoa học và xây dựng môi trường học thuật quân sự. Trước yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện GD,ĐT trong quân đội và quá trình chuyển đổi số đang diễn ra mạnh mẽ, công tác thư viện nói chung và nghiệp vụ thư viện nói riêng đặt ra yêu cầu phải đổi mới phù hợp với điều kiện, đặc thù quân sự. Do đó, nghiên cứu làm rõ việc đổi mới nghiệp vụ thư viện các NTQĐ gắn với chuyển đổi số hiện nay có ý nghĩa thiết thực, góp phần nâng cao chất lượng hoạt động thư viện, đáp ứng yêu cầu GD,ĐT và nghiên cứu khoa học trong tình hình mới.

Trong các NTQĐ, thư viện có vai trò đặc biệt quan trọng trong bảo đảm nguồn lực thông tin phục vụ GD,ĐT và nghiên cứu khoa học. Nghiệp vụ thư viện, với tư cách là tổng thể các hoạt động chuyên môn như: Bổ sung, xử lý, tổ chức lưu trữ, khai thác và cung cấp tài liệu, quyết định trực tiếp đến chất lượng, hiệu quả hoạt động của thư viện. Do đó, đổi mới nghiệp vụ thư viện không chỉ là yêu cầu mang tính kỹ thuật, nghiệp vụ, mà còn là nội dung có ý nghĩa chiến lược trong nâng cao chất lượng GD,ĐT và nghiên cứu khoa học ở các NTQĐ hiện nay.

Đổi mới nghiệp vụ thư viện gắn là quá trình thay đổi tổng thể và toàn diện phương thức tổ chức, quản lý và vận hành hoạt động trên cơ sở ứng dụng công nghệ số “Chuyển đổi số là việc sử dụng dữ liệu và công nghệ số để thay đổi tổng thể và toàn diện cách sống, cách làm việc và phương thức sản xuất của cá nhân, tổ chức” (1). Trong lĩnh vực thư viện, chuyển đổi số không đồng nhất với việc đơn thuần số hóa tài liệu hay ứng dụng công nghệ thông tin vào một số khâu nghiệp vụ, mà là quá trình tái cấu trúc toàn bộ hoạt động nghiệp vụ theo hướng số hóa, chuẩn hóa, liên thông và thông minh hóa. Điều này đòi hỏi sự đổi mới đồng bộ từ tư duy quản lý, quy trình nghiệp vụ đến phương thức phục vụ bạn đọc trong môi trường số.

Đối với các NTQĐ, đổi mới nghiệp vụ thư viện gắn với chuyển đổi số còn chịu sự chi phối bởi những đặc thù của môi trường quân sự. Bởi vì, thư viện vừa thực hiện chức năng phục vụ GD,ĐT, nghiên cứu khoa học, vừa phải bảo đảm yêu cầu quản lý chặt chẽ, giữ vững nguyên tắc bảo mật thông tin quân sự. Vì vậy, đổi mới nghiệp vụ thư viện không thể áp dụng máy móc các mô hình thư viện số dân sự, mà phải được nghiên cứu, vận dụng phù hợp với đặc điểm nhiệm vụ, đối tượng phục vụ và cơ chế quản lý trong quân đội. Đây là điểm khác biệt căn bản, đồng thời cũng là yêu cầu đặt ra đối với việc đổi mới nghiệp vụ thư viện trong các NTQĐ hiện nay.

Sự phát triển nhanh chóng của khoa học, công nghệ, đặc biệt là công nghệ số, trí tuệ nhân tạo và dữ liệu lớn, đang làm thay đổi sâu sắc phương thức tiếp cận, lưu trữ và sử dụng tri thức. Hoạt động GD,ĐT và nghiên cứu khoa học trong các NTQĐ ngày càng đòi hỏi nguồn tài liệu đa dạng, cập nhật, có khả năng truy cập linh hoạt, mọi lúc, mọi nơi. Trong khi đó, mô hình nghiệp vụ thư viện truyền thống với phương thức quản lý và phục vụ chủ yếu dựa trên tài liệu in và thao tác thủ công đã bộc lộ nhiều hạn chế, không còn đáp ứng đầy đủ yêu cầu của thực tiễn GD,ĐT trong môi trường số.

Những năm gần đây, quán triệt chủ trương đổi mới GD,ĐT trong quân đội và yêu cầu ứng dụng khoa học, công nghệ, công tác thư viện ở các NTQĐ đã có những chuyển biến tích cực theo hướng hiện đại hóa và từng bước tiếp cận chuyển đổi số. Nhiều thư viện đã quan tâm đổi mới các khâu nghiệp vụ, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, tổ chức và khai thác tài liệu, qua đó từng bước nâng cao chất lượng phục vụ nhiệm vụ đào tạo và nghiên cứu khoa học.

Trước hết, nghiệp vụ bổ sung và xử lý tài liệu ở một số thư viện trong các NTQĐ đã có sự đổi mới theo hướng chú trọng hơn đến tài nguyên số. Bên cạnh việc bổ sung tài liệu in truyền thống, nhiều thư viện đã quan tâm xây dựng cơ sở dữ liệu tài liệu điện tử, luận văn, luận án, đề tài khoa học, giáo trình nội bộ phục vụ giảng dạy và nghiên cứu. Công tác biên mục, tổ chức tra cứu từng bước được tin học hóa, góp phần rút ngắn thời gian tìm kiếm thông tin và nâng cao khả năng khai thác tài liệu của bạn đọc. Hoạt động phục vụ bạn đọc có những chuyển biến rõ nét theo hướng đa dạng hóa phương thức và hình thức phục vụ. Một số thư viện đã triển khai các dịch vụ tra cứu trực tuyến, đọc tài liệu số tại chỗ, hỗ trợ khai thác cơ sở dữ liệu phục vụ nghiên cứu khoa học. Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý mượn, trả, thống kê bạn đọc, theo dõi nhu cầu sử dụng tài liệu bước đầu mang lại hiệu quả, góp phần nâng cao tính chủ động và linh hoạt trong phục vụ cán bộ, giảng viên, học viên.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, thực trạng đổi mới nghiệp vụ thư viện các NTQĐ gắn với chuyển đổi số vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập. Nổi bật là mức độ chuyển đổi số trong nghiệp vụ thư viện chưa đồng đều giữa các nhà trường, chủ yếu mới dừng lại ở việc ứng dụng công nghệ thông tin hoặc số hóa một phần tài liệu, chưa thực sự chuyển đổi toàn diện mô hình nghiệp vụ. Nhiều quy trình nghiệp vụ vẫn vận hành theo tư duy truyền thống, thiếu sự tích hợp, liên thông và khai thác hiệu quả dữ liệu số. Công tác xây dựng và quản lý tài nguyên thông tin số còn phân tán, thiếu tính hệ thống. Cơ sở dữ liệu nội sinh ở nhiều thư viện chưa được chuẩn hóa đầy đủ, việc kết nối, chia sẻ tài nguyên thông tin giữa các NTQĐ còn hạn chế. Điều này dẫn đến tình trạng trùng lặp trong đầu tư tài liệu, trong khi khả năng khai thác và sử dụng tài nguyên số chưa tương xứng với tiềm năng sẵn có. Năng lực chuyển đổi số của đội ngũ cán bộ, nhân viên thư viện chưa theo kịp yêu cầu nhiệm vụ. Phần lớn cán bộ thư viện được đào tạo theo mô hình nghiệp vụ truyền thống, trong khi kiến thức, kỹ năng về công nghệ số, quản trị dữ liệu, khai thác và vận hành hệ thống thư viện số còn hạn chế.

Để đổi mới nghiệp vụ thư viện các nhà trường quân đội gắn với chuyển đổi số hiện nay, cần triển khai một số giải pháp:

 

Một là, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các chủ thể trong đổi mới nghiệp vụ thư viện gắn với chuyển đổi số.

Đổi mới nghiệp vụ thư viện các NTQĐ gắn với chuyển đổi số trước hết và quan trọng nhất phải bắt đầu từ việc nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các chủ thể có liên quan. Việc nâng cao nhận thức cần được thực hiện đồng bộ đối với cấp ủy, chỉ huy các cấp, cơ quan chức năng và đội ngũ cán bộ, nhân viên thư viện. Cấp ủy, chỉ huy các NTQĐ cần nhận thức đầy đủ rằng đổi mới nghiệp vụ thư viện gắn với chuyển đổi số là một bộ phận quan trọng của đổi mới GD,ĐT có tác động trực tiếp đến chất lượng giảng dạy, học tập và nghiên cứu khoa học. Trên cơ sở đó, cần tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo, đưa nội dung đổi mới nghiệp vụ thư viện vào nghị quyết, kế hoạch công tác của nhà trường, bảo đảm sự thống nhất về nhận thức và hành động trong tổ chức thực hiện. Đối với cơ quan chức năng và đội ngũ cán bộ, nhân viên thư viện, việc nâng cao nhận thức phải gắn liền với việc đổi mới tư duy nghiệp vụ, chuyển từ cách làm truyền thống sang tư duy quản lý và phục vụ trong môi trường số. Cán bộ, nhân viên thư viện cần nhận thức rõ vai trò chủ động, sáng tạo của mình trong quá trình chuyển đổi số, không chỉ là người thực hiện quy trình nghiệp vụ, mà còn là chủ thể tham mưu, đề xuất các giải pháp đổi mới phù hợp với đặc thù NTQĐ. Đồng thời, cần làm tốt công tác tuyên truyền, bồi dưỡng, tập huấn, nhận thức đúng đắn sẽ tạo động lực thúc đẩy hành động, góp phần hình thành sự đồng thuận và quyết tâm chính trị cao trong đổi mới nghiệp vụ thư viện gắn với chuyển đổi số, từ đó bảo đảm hiệu quả và tính bền vững của quá trình này.

Hai là, hoàn thiện quy trình nghiệp vụ thư viện theo hướng số hóa, chuẩn hóa và liên thông.

Đổi mới nghiệp vụ thư viện các NTQĐ gắn với chuyển đổi số chỉ thực sự đạt hiệu quả khi các quy trình nghiệp vụ được hoàn thiện theo hướng số hóa, chuẩn hóa và bảo đảm tính liên thông. Trước hết, các NTQĐ cần rà soát, điều chỉnh và hoàn thiện toàn bộ quy trình nghiệp vụ thư viện theo hướng tích hợp giữa nghiệp vụ truyền thống và nghiệp vụ số. Các khâu bổ sung, xử lý, lưu trữ và khai thác tài liệu cần được thiết kế lại phù hợp với môi trường số, bảo đảm mỗi tài liệu, đặc biệt là tài liệu số và tài liệu nội sinh, đều được quản lý thống nhất ngay từ khâu đầu vào. Việc chuẩn hóa các tiêu chuẩn biên mục, phân loại, mô tả dữ liệu không chỉ góp phần nâng cao chất lượng quản lý tài nguyên thông tin, mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho việc chia sẻ và liên thông dữ liệu giữa các thư viện trong hệ thống NTQĐ. Bên cạnh đó, hoàn thiện quy trình nghiệp vụ thư viện phải gắn với yêu cầu liên thông và khai thác dùng chung tài nguyên thông tin. Trên cơ sở bảo đảm nguyên tắc quản lý và bảo mật quân sự, các nhà trường cần từng bước xây dựng cơ chế kết nối, chia sẻ dữ liệu thư viện phù hợp, tránh đầu tư trùng lặp, đồng thời nâng cao khả năng khai thác tài nguyên thông tin phục vụ giảng dạy và nghiên cứu khoa học. Khi quy trình nghiệp vụ được chuẩn hóa và vận hành thống nhất, công tác thư viện sẽ chuyển từ cách làm manh mún sang mô hình quản lý hiện đại, tạo nền tảng vững chắc cho việc triển khai các ứng dụng công nghệ số nâng cao trong thời gian tới.

Ba là, xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ, nhân viên thư viện đáp ứng yêu cầu đổi mới nghiệp vụ gắn với chuyển đổi số

Trong quá trình đổi mới nghiệp vụ thư viện gắn với chuyển đổi số ở các NTQĐ, đội ngũ cán bộ, nhân viên thư viện giữ vai trò trực tiếp quyết định hiệu quả tổ chức thực hiện. Thực tiễn cho thấy, dù hệ thống cơ sở vật chất và công nghệ được đầu tư tương đối đồng bộ, nhưng nếu đội ngũ cán bộ, nhân viên thư viện thiếu năng lực chuyên môn, hạn chế về kỹ năng số và tư duy đổi mới thì công tác thư viện vẫn khó đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Vì vậy, xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ, nhân viên thư viện có bản lĩnh chính trị vững vàng, trình độ chuyên môn và năng lực ứng dụng công nghệ số là yêu cầu cấp thiết hiện nay.

Trước hết, các NTQĐ cần quan tâm quy hoạch, bố trí và sử dụng đội ngũ cán bộ, nhân viên thư viện một cách hợp lý, bảo đảm tính ổn định và kế thừa. Việc lựa chọn, bổ nhiệm cán bộ, nhân viên thư viện không chỉ dựa trên tiêu chuẩn nghiệp vụ truyền thống, mà cần chú trọng năng lực tiếp cận và làm chủ công nghệ số, khả năng thích ứng với sự thay đổi của mô hình thư viện hiện đại. Trên cơ sở đó, cần xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng thường xuyên, cập nhật kiến thức mới về nghiệp vụ thư viện số, quản trị dữ liệu, an toàn thông tin, đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số trong môi trường quân sự. Bên cạnh nâng cao trình độ chuyên môn, việc phát triển đội ngũ cán bộ, nhân viên thư viện cần gắn với đổi mới tư duy phục vụ và tác phong công tác. Cán bộ, nhân viên thư viện phải chuyển từ tư duy “giữ kho, phát tài liệu” sang tư duy “cung cấp dịch vụ thông tin - tri thức”, chủ động hỗ trợ giảng viên, học viên trong khai thác và sử dụng tài nguyên số. Đồng thời, cần có cơ chế khuyến khích, động viên kịp thời đối với cán bộ, nhân viên thư viện tích cực đổi mới, sáng tạo trong công tác, qua đó tạo động lực thúc đẩy họ không ngừng nâng cao chất lượng nghiệp vụ, góp phần thực hiện hiệu quả mục tiêu đổi mới nghiệp vụ thư viện gắn với chuyển đổi số trong các NTQĐ.

Bốn là, tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, hạ tầng kỹ thuật và bảo đảm an toàn thông tin trong đổi mới nghiệp vụ thư viện.

Đổi mới nghiệp vụ thư viện gắn với chuyển đổi số ở các NTQĐ không thể tách rời việc đầu tư cơ sở vật chất, hạ tầng kỹ thuật và bảo đảm an toàn thông tin. Trước hết, các NTQĐ cần có kế hoạch đầu tư phù hợp, từng bước hiện đại hóa không gian thư viện, hệ thống máy chủ, thiết bị lưu trữ và đường truyền, bảo đảm đáp ứng yêu cầu khai thác tài nguyên số ngày càng gia tăng. Việc đầu tư cần gắn với lộ trình chuyển đổi số chung của nhà trường, tránh dàn trải, hình thức, đồng thời ưu tiên những hạng mục phục vụ trực tiếp cho đổi mới nghiệp vụ thư viện và nâng cao chất lượng phục vụ người dùng tin. Bên cạnh đó, cần chú trọng xây dựng hệ thống phần mềm quản lý thư viện đồng bộ, có khả năng mở rộng và tích hợp với các hệ thống thông tin khác trong nhà trường. Song song với đầu tư hạ tầng kỹ thuật, bảo đảm an toàn thông tin là yêu cầu đặc thù, mang tính nguyên tắc trong môi trường quân sự “Bảo đảm an ninh mạng, an ninh dữ liệu, an toàn thông tin của tỏ chức và cá nhân là yêu cầu xuyên suốt, không thể tách rời quá trình phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng  tạo và chuyển đổi số”(2). Các NTQĐ cần xây dựng và thực hiện nghiêm các quy định về quản lý, khai thác và bảo mật tài nguyên thông tin thư viện, nhất là đối với tài liệu số và tài liệu nội sinh. Việc kết hợp chặt chẽ giữa đầu tư hạ tầng kỹ thuật và các giải pháp bảo đảm an toàn thông tin sẽ giúp công tác thư viện phát triển theo hướng hiện đại, bền vững, đồng thời bảo đảm phục vụ hiệu quả nhiệm vụ GD,ĐT, nghiên cứu khoa học và xây dựng quân đội trong tình hình mới.

Đổi mới nghiệp vụ thư viện các NTQĐ gắn với chuyển đổi số là yêu cầu khách quan, xuất phát từ nhiệm vụ nâng cao chất lượng GD,ĐT và nghiên cứu khoa học trong tình hình mới. Quá trình này đòi hỏi sự vào cuộc đồng bộ của cấp ủy, chỉ huy các cấp, sự đổi mới toàn diện về nhận thức, quy trình nghiệp vụ, ứng dụng công nghệ số, phát triển đội ngũ cán bộ và bảo đảm các điều kiện vật chất, kỹ thuật. Thực hiện tốt các giải pháp nêu trên sẽ góp phần xây dựng hệ thống thư viện NTQĐ theo hướng hiện đại, chuẩn hóa, từng bước hình thành môi trường học tập và nghiên cứu số hiệu quả. Qua đó, công tác thư viện sẽ phát huy tốt vai trò là trung tâm thông tin, tri thức, phục vụ đắc lực cho sự nghiệp đào tạo cán bộ và xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại.

Thượng tá CN Trần Thị Thu Hiền

Phòng Khoa học Quân sự - Học viện Chính trị

 

Tài liệu tham khảo

(1) Bộ Thông tin và Truyền thông (2021). Cẩm nang chuyển đổi số. H. NXB Thông tin và truyền thông, Hà Nội, Tr.2.

(2) Quân ủy Trung ương (2025). Nghị quyết số 3488-NQ/QUTW ngày 29/01/2025 về đột phá phát triển khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong quân đội, Hà Nội, Tr.2