Diễn đàn

Làm rõ tiêu chí sáng kiến, siết trách nhiệm quỹ khen thưởng

Góp ý về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi đua, khen thưởng, nhiều đại biểu Quốc hội đề nghị làm rõ tiêu chí sáng kiến trong xét danh hiệu, đồng thời quy định chặt chẽ trách nhiệm đối với quỹ thi đua, khen thưởng nhằm bảo đảm tính khả thi và công bằng trong thực tiễn. Đại biểu Dương Khắc Mai (Lâm Đồng) nêu ý kiến về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi đua, khen thưởng. Chiều 10/4, tiếp tục chương trình làm việc, Quốc hội thảo luận tại hội trường về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi đua, khen thưởng. Nhiều đại biểu cho rằng, bên cạnh những kết quả tích cực sau thời gian triển khai Luật hiện hành, thực tiễn đã phát sinh không ít vướng mắc, đòi hỏi phải tiếp tục hoàn thiện thể chế theo hướng minh bạch, khả thi và thực chất hơn. Một trong những nội dung nhận được nhiều ý kiến là vấn đề quỹ thi đua, khen thưởng, vốn đang bộc lộ không ít bất cập tại cơ sở. Đại biểu Dương Khắc Mai (Lâm Đồng) cho biết, dự thảo Luật mở rộng phạm vi và tần suất khen thưởng nhưng chưa làm rõ trách nhiệm chi trả, đồng thời chưa đánh giá đầy đủ tác động tài chính. Điều này có thể dẫn tới mất cân đối giữa thẩm quyền quyết định và nguồn lực thực hiện. Thực tế đã xuất hiện tình trạng đề xuất khen thưởng vượt khả năng ngân sách, dẫn đến chậm chi trả hoặc phải điều chỉnh kế hoạch chi tiêu. Từ đó, đại biểu kiến nghị cần quy định rõ nguyên tắc: Cơ quan, đơn vị hoặc cấp có thẩm quyền ban hành quyết định khen thưởng thì đồng thời phải có trách nhiệm bố trí nguồn lực và thực hiện chi trả từ ngân sách do cấp mình quản lý. Đây được xem là giải pháp quan trọng nhằm bảo đảm tính khả thi và kỷ luật tài chính trong công tác khen thưởng. Bên cạnh đó, cần xác định rõ cơ cấu nguồn hình thành quỹ thi đua, khen thưởng, bao gồm ngân sách nhà nước và các nguồn hợp pháp khác, đồng thời thiết kế cơ chế điều hòa, bổ sung khi nguồn quỹ không bảo đảm, nhằm duy trì ổn định khả năng chi trả. Một điểm đáng chú ý khác là yêu cầu bổ sung tiêu chí đánh giá tác động ngân sách theo hướng định lượng, cụ thể cho từng cấp chính quyền. Theo đại biểu, việc này sẽ giúp làm rõ nhu cầu kinh phí phát sinh khi mở rộng đối tượng, hình thức khen thưởng, qua đó bảo đảm tính bền vững khi triển khai luật. Liên quan đến danh hiệu “Chiến sĩ thi đua cấp cơ sở”, dự thảo luật gắn tiêu chuẩn với yêu cầu về sáng kiến, nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Đây là định hướng phù hợp trong bối cảnh phát triển hiện nay. Tuy nhiên, đại biểu Dương Khắc Mai cho rằng, khi triển khai tại cơ sở, đặc biệt ở cấp xã, quy định này đang phát sinh nhiều vướng mắc. Nguyên nhân là các tiêu chí về sáng kiến còn mang tính khái quát, chưa làm rõ loại hình, phương thức đánh giá cũng như thẩm quyền xác nhận, dẫn tới áp dụng thiếu thống nhất. Đặc biệt, nhiều vị trí công tác mang tính hành chính khó lượng hóa thành sản phẩm khoa học, nếu áp dụng cứng tiêu chuẩn này sẽ thu hẹp đối tượng được xét tặng, ảnh hưởng đến phong trào thi đua. Đại biểu kiến nghị cần quy định rõ tiêu chí nội dung và phương thức đánh giá sáng kiến, nhấn mạnh hiệu quả áp dụng thực tế và khả năng nhân rộng. Đồng thời, mở rộng phạm vi sáng kiến, bao gồm các giải pháp cải tiến trong quản lý, cải cách hành chính, chuyển đổi số, nâng cao chất lượng phục vụ người dân-những nội dung phù hợp với đặc thù của cấp cơ sở. Đối với công nhân, người lao động trực tiếp, đại biểu cho rằng quy định hiện hành về sáng kiến vẫn mang nặng tính nghiên cứu, chưa phù hợp với đặc thù lao động sản xuất. Nhiều sáng kiến có giá trị thực tiễn như cải tiến kỹ thuật nhỏ, hợp lý hóa quy trình, tiết kiệm chi phí… lại khó đáp ứng yêu cầu về hồ sơ, thủ tục, dẫn đến chưa được ghi nhận xứng đáng. Để khắc phục, đại biểu đề xuất đơn giản hóa thủ tục công nhận sáng kiến đối với nhóm đối tượng này, tập trung vào hiệu quả thực tế thay vì yêu cầu hình thức. Có thể cho phép mô tả ngắn gọn nội dung cải tiến, phạm vi áp dụng, hiệu quả mang lại; đồng thời rút gọn quy trình thẩm định theo hướng đánh giá tại chỗ, gắn với kết quả sản xuất kinh doanh. Ngoài ra, cần quy định rõ phạm vi và loại hình sáng kiến được công nhận, bao gồm cải tiến kỹ thuật quy mô nhỏ, hợp lý hóa quy trình sản xuất, giải pháp tiết kiệm nguyên vật liệu, nâng cao năng suất, chất lượng, bảo đảm an toàn lao động… với tiêu chí đánh giá dựa trên hiệu quả và khả năng nhân rộng. Cần cơ chế linh hoạt với thành tích đặc biệt xuất sắc Cùng quan tâm đến tính thực chất trong khen thưởng, đại biểu Nguyễn Thu Nguyệt (Đắk Lắk)  nêu vấn đề: Một thành tích đột xuất nếu được ghi nhận ban đầu, sau đó tiếp tục phát huy và tích lũy thành công trạng, liệu có được xem xét ở mức khen thưởng cao hơn hay không? Đây là nội dung cần được làm rõ trong dự thảo luật. Về tiêu chuẩn khen thưởng, dự thảo vẫn thiết kế theo trình tự từ thấp đến cao, gắn với quá trình tích lũy thành tích. Tuy nhiên, theo đại biểu, cách tiếp cận này gây khó khăn trong thực tiễn, bởi có những thành tích đột xuất, nổi trội nhưng phải “chờ đủ quy trình” mới được xem xét, chưa phản ánh đúng nguyên tắc “thành tích đến đâu khen thưởng đến đó”. Do đó, đại biểu đề nghị cần bổ sung cơ chế linh hoạt, cho phép xem xét khen thưởng vượt cấp đối với những trường hợp đặc biệt xuất sắc, đồng thời lượng hóa rõ tiêu chí để tránh áp dụng cảm tính, bảo đảm công bằng, minh bạch. Một nội dung mới của dự thảo là quy định sự tương đương giữa hình thức khen thưởng của Đảng và của chính quyền. Theo đại biểu Nguyễn Thu Nguyệt, quy định này có ý nghĩa tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn, tuy nhiên cần bổ sung nguyên tắc chung để tránh áp dụng dàn trải. Cụ thể, chỉ được coi là tương đương khi đáp ứng đồng thời các điều kiện như cùng cấp, cùng đối tượng, cùng phạm vi quản lý, cùng tiêu chuẩn xét; đồng thời không dùng để quy đổi trùng lặp cho một thành tích. Đại biểu cũng lưu ý nguy cơ bất bình đẳng trong xét khen thưởng khi cán bộ, đảng viên có thể có cả thành tích của Đảng và chính quyền, trong khi người lao động chỉ có một kênh khen thưởng là chính quyền. Vì vậy, cần có quy định bảo đảm công bằng, chú trọng hơn tới người lao động trực tiếp. Theo đó, cần làm rõ cơ chế phát hiện, tạo nguồn và lập hồ sơ đề nghị khen thưởng đối với công nhân, nông dân, người lao động sản xuất, bảo đảm việc ghi nhận thành tích được thực hiện đơn giản, dễ chứng minh và dễ áp dụng. Bộ trưởng Bộ Nội vụ Đỗ Thanh Bình phát biểu giải trình. Phát biểu giải trình, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Đỗ Thanh Bình cho biết, Luật Thi đua, khen thưởng năm 2022 (có hiệu lực từ 1/1/2024) sau hai năm triển khai đã tạo chuyển biến tích cực. Phong trào thi đua ngày càng đi vào thực chất, tập trung vào các nhiệm vụ chính trị trọng tâm; nhiều tập thể, cá nhân được tôn vinh kịp thời, tạo sức lan tỏa mạnh mẽ. Việc sửa đổi, bổ sung luật lần này nhằm hoàn thiện thể chế sau khi thực hiện sắp xếp tổ chức bộ máy và triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp; đồng thời thể chế hóa chủ trương đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo sự chủ động, linh hoạt trong công tác thi đua, khen thưởng. Dự thảo cũng hướng tới thể chế hóa các nghị quyết của Đảng, trong đó có yêu cầu đột phá về khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; bổ sung các tiêu chí khen thưởng liên quan đến quốc phòng, an ninh, đối ngoại và ứng dụng công nghệ. Bộ trưởng nhấn mạnh sẽ tiếp thu đầy đủ ý kiến của các đại biểu Quốc hội, tiếp tục rà soát, hoàn thiện dự thảo luật, bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, đồng bộ của hệ thống pháp luật, đồng thời chú trọng khen thưởng các tập thể, cá nhân tiêu biểu, đi đầu trong đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Theo chinhphu.vn

Lấy ý kiến về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi đua, khen thưởng

BTĐKT - Ngày 20/3, tại tỉnh Gia Lai, Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội tổ chức “Hội nghị lấy ý kiến về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi đua, khen thưởng”. Chủ trì hội nghị có các đồng chí: Nguyễn Thị Kim Thúy, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa Xã hội của Quốc hội; Nguyễn Thanh Cầm, Ủy viên chuyên trách Ủy ban Văn hóa Xã hội của Quốc hội; Phạm Đức Toàn, Phó Trưởng ban Ban Thi đua - Khen thưởng Trung ương. Quang cảnh hội nghị Cùng dự hội nghị, có 13 đại biểu Quốc hội, các thành viên Tổ công tác, Tổ Thư ký của Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội thẩm tra dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi đua, khen thưởng (dự án Luật); đại diện Ban Soạn thảo dự án Luật. Về phía tỉnh Gia Lai, có lãnh đạo HDND, UBND, Ủy ban MTTQ Việt Nam, Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh; lãnh đạo và chuyên viên các sở, ngành, Công an tỉnh, Bảo hiểm xã hội, Chi cục thuế tỉnh,  Kiểm toán Nhà nước khu vực 15; lãnh đạo UBND phường Quy Nhơn Nam. Đồng chí Phạm Đức Toàn, Phó Trưởng ban Ban Thi đua - Khen thưởng Trung ương báo cáo tóm tắt những nội dung cơ bản của dự án Luật Báo cáo tại hội nghị, đồng chí Phạm Đức Toàn, Phó Trưởng ban Ban Thi đua - Khen thưởng Trung ương cho biết: Sau hơn 2 năm triển khai thực hiện Luật Thi đua, khen thưởng số 06/2022/QH15, công tác thi đua, khen thưởng trong cả nước đã có những chuyển biến rõ nét, tích cực, tạo cơ sở pháp lý ngày càng hoàn thiện để nâng cao chất lượng, hiệu quả quản lý nhà nước về thi đua, khen thưởng. Tuy nhiên, trước những yêu cầu cấp bách từ thực tiễn đang diễn ra, đặc biệt là công cuộc sắp xếp tổ chức bộ máy trong hệ thống chính trị và thực hiện mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, dẫn tới có một số quy định về tên gọi, tiêu chuẩn danh hiệu thi đua, tiêu chuẩn hình thức khen thưởng, thẩm quyền khen thưởng, thẩm quyền đề nghị khen thưởng được quy định trong Luật Thi đua, khen thưởng… cần phải điều chỉnh để không tạo khoảng trống pháp lý triển khai thực hiện; yêu cầu thể chế hóa các Nghị quyết, Kết luận của Đảng vào Luật Thi đua, khen thưởng để tạo động lực bứt phá mạnh mẽ phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới ngày càng cấp thiết. Bên cạnh đó, một số bất cập, hạn chế trong quá trình triển khai thực hiện Luật thời gian qua (việc áp dụng nguyên tắc khen thưởng; việc áp dụng tiêu chuẩn tổ chức đảng, đoàn thể trong sạch, vững mạnh, tiêu chuẩn khen thưởng công trạng đối với tập thể…) đã đặt ra yêu cầu cần sửa đổi, bổ sung Luật Thi đua, khen thưởng để phù hợp với tổ chức bộ máy trong hệ thống chính trị hiện nay; tạo động lực phát triển đất nước; đồng thời giải quyết những vấn đề còn khó khăn, vướng mắc, tạo cơ sở pháp lý ngày càng hoàn thiện, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác thi đua, khen thưởng trong giai đoạn mới. Thực hiện Nghị quyết 105/2025/UBTVQH15 ngày 26/9/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XV về Chương trình lập pháp năm 2026 của Quốc hội và sự phân công của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Nội vụ đã chủ trì, phối hợp với các cơ quan, tổ chức có liên quan xây dựng dự án Luật theo đúng quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Ngày 14/02/2026, Chính phủ đã có Tờ trình số 52/TTr-CP trình Quốc hội dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi đua, khen thưởng.  Dự thảo Luật dự kiến sửa đổi, bổ sung 48/96 điều của Luật Thi đua, khen thưởng số 06/2022/QH15, bố cục gồm 4 Điều. Nội dung cơ bản của dự thảo Luật tập trung sửa đổi, bổ sung các quy định liên quan đến tổ chức thi đua, danh hiệu thi đua và tiêu chuẩn danh hiệu thi đua; quy định tiêu chuẩn hình thức khen thưởng; quy định về thẩm quyền khen thưởng; trách nhiệm và thẩm quyền đề nghị khen thưởng; phân cấp, phân quyền, cải cách thủ tục hành chính trong thi đua, khen thưởng, quỹ thi đua, khen thưởng. Phó Chủ tịch UBND tỉnh Gia Lai Nguyễn Hữu Quế tham gia ý kiến tại hội nghị Phát biểu tại hội nghị, các đại biểu ghi nhận Ban soạn thảo trong quá trình hoàn thiện dự án Luật, về cơ bản, đã tiếp thu đầy đủ ý kiến tham gia của các bộ ban ngành và địa phương, bảo đảm mục tiêu thể chế hóa kịp thời, đầy đủ chủ trương, đường lối của Đảng về “tiếp tục đổi mới công tác thi đua, khen thưởng” theo tinh thần Chỉ thị số 41-CT/TW của Bộ Chính trị; đồng bộ hóa các quy định pháp luật; khắc phục những tồn tại của Luật hiện hành; tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong tổ chức thực hiện phong trào thi đua yêu nước và công tác khen thưởng trong kỷ nguyên mới. Các đại biểu cũng đóng góp một số ý kiến góp ý để hoàn thiện dự án Luật, trong đó có nhiều ý kiến về các quy định về chi khen thưởng; tiêu chuẩn tặng Bằng khen cấp tỉnh, danh hiệu “Chiến sĩ thi đua cơ sở”… Phát biểu tại hội nghị, các đồng chí chủ trì hội nghị trân trọng cảm ơn các ý kiến đã tham gia góp ý để tổng hợp, nghiên cứu, tiếp tục chỉnh lý dự án Luật cho phù hợp. Phương Thanh      

Chính phủ thông qua dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi đua, khen thưởng

Tại Nghị quyết số 28/NQ-CP, Chính phủ thống nhất thông qua dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi đua, khen thưởng do Chính phủ giao Bộ trưởng Bộ Nội vụ chịu trách nhiệm về việc tiếp thu ý kiến Thành viên Chính phủ, hoàn thiện hồ sơ dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi đua, khen thưởng; thừa ủy quyền Thủ tướng Chính phủ, thay mặt Chính phủ ký Tờ trình của Chính phủ về dự thảo Luật và các văn bản liên quan trình Quốc hội theo quy định. Đồng thời, Bộ Nội vụ phối hợp chặt chẽ với các cơ quan của Quốc hội; chủ động báo cáo, giải trình trong quá trình thẩm tra, tiếp thu ý kiến của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, của Quốc hội về dự thảo Luật theo đúng quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật và chịu trách nhiệm về nội dung báo cáo. * Theo Bộ Nội vụ, dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi đua, khen thưởng sửa đổi, bổ sung nhiều quy định về danh hiệu Chiến sĩ thi đua cấp toàn quốc, cấp bộ, ngành, tỉnh, cấp cơ sở; bổ sung danh hiệu thi đua “Xã tiêu biểu”, “Phường, thị trấn tiêu biểu”... Về danh hiệu Chiến sĩ thi đua (cấp toàn quốc; cấp bộ, ngành, tỉnh; cấp cơ sở): Dự thảo Luật đã quy định cụ thể tiêu chuẩn xét tặng danh hiệu Chiến sĩ thi đua; bổ sung tiêu chuẩn “có đề án khoa học” vì trên thực tế có nhiều cá nhân có Đề án nghiên cứu khoa học đã được nghiệm thu và được áp dụng có hiệu quả; bỏ từ “nhất” trong cụm từ “tiêu biểu xuất sắc nhất”, vì trên thực tế việc so sánh, đánh giá tiêu biểu “nhất” giữa các cá nhân trong bộ, ngành, địa phương chưa có tiêu chí chung để thực hiện, nhất là đối với các bộ quản lý đa ngành, đa lĩnh vực hoặc cá nhân xét tặng danh hiệu thi đua gồm nhiều đối tượng khác nhau (công nhân, nông dân, công chức) trong cùng một địa phương. Dự thảo cũng sửa đổi, bổ sung tiêu chuẩn về hiệu quả áp dụng và phạm vi ảnh hưởng của sáng kiến hoặc đề án khoa học, đề tài khoa học đối với danh hiệu “Chiến sĩ thi đua toàn quốc”, “Chiến sĩ thi đua cấp bộ, ngành, tỉnh” và thẩm quyền công nhận hiệu quả áp dụng và phạm vi ảnh hưởng của sáng kiến hoặc đề án khoa học, đề tài khoa học. Nội dung nêu trên đã được quy định tại Nghị định quy định chi tiết Luật Thi đua, khen thưởng hiện hành và thực hiện có hiệu quả thời gian qua, vì vậy đề nghị quy định vào Luật để có tính pháp lý cao hơn. Bên cạnh đó, dự thảo bổ sung danh hiệu “Xã tiêu biểu”, “Phường, thị trấn tiêu biểu”. Việc bổ sung danh hiệu thi đua này xuất phát từ thực tế tại địa phương đã thực hiện tặng danh hiệu thi đua này trong nhiều năm, đã phát huy hiệu quả. Vì vậy, cần bổ sung vào Luật để tạo cơ sở pháp lý khi triển khai thực hiện và để thực hiện chủ trương của Đảng là khen thưởng tập thể nhỏ và hướng về cơ sở. Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung tiêu chuẩn về khen thưởng tập thể nhỏ, công nhân, nông dân, người lao động trực tiếp sản xuất được quy định tại khoản 3 Điều 22 dự thảo Luật về công nhận danh hiệu “Lao động tiên tiến”; Huân chương Lao động hạng Nhất, Nhì, Ba; Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ, Bằng khen cấp bộ, ban, ngành, tỉnh thực hiện chủ trương của đảng về chú trọng khen thưởng tập thể nhỏ, công nhân, nông dân, người lao động trực tiếp sản xuất, kinh doanh... Theo https://baochinhphu.vn  

Đổi mới nghiệp vụ thư viện tại các nhà trường quân đội gắn với chuyển đổi số hiện nay

BTĐKT - Trong các nhà trường quân đội (NTQĐ), thư viện giữ vai trò quan trọng trong bảo đảm nguồn tài liệu phục vụ giáo dục, đào tạo (GD,ĐT), nghiên cứu khoa học và xây dựng môi trường học thuật quân sự. Trước yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện GD,ĐT trong quân đội và quá trình chuyển đổi số đang diễn ra mạnh mẽ, công tác thư viện nói chung và nghiệp vụ thư viện nói riêng đặt ra yêu cầu phải đổi mới phù hợp với điều kiện, đặc thù quân sự. Do đó, nghiên cứu làm rõ việc đổi mới nghiệp vụ thư viện các NTQĐ gắn với chuyển đổi số hiện nay có ý nghĩa thiết thực, góp phần nâng cao chất lượng hoạt động thư viện, đáp ứng yêu cầu GD,ĐT và nghiên cứu khoa học trong tình hình mới. Trong các NTQĐ, thư viện có vai trò đặc biệt quan trọng trong bảo đảm nguồn lực thông tin phục vụ GD,ĐT và nghiên cứu khoa học. Nghiệp vụ thư viện, với tư cách là tổng thể các hoạt động chuyên môn như: Bổ sung, xử lý, tổ chức lưu trữ, khai thác và cung cấp tài liệu, quyết định trực tiếp đến chất lượng, hiệu quả hoạt động của thư viện. Do đó, đổi mới nghiệp vụ thư viện không chỉ là yêu cầu mang tính kỹ thuật, nghiệp vụ, mà còn là nội dung có ý nghĩa chiến lược trong nâng cao chất lượng GD,ĐT và nghiên cứu khoa học ở các NTQĐ hiện nay. Đổi mới nghiệp vụ thư viện gắn là quá trình thay đổi tổng thể và toàn diện phương thức tổ chức, quản lý và vận hành hoạt động trên cơ sở ứng dụng công nghệ số “Chuyển đổi số là việc sử dụng dữ liệu và công nghệ số để thay đổi tổng thể và toàn diện cách sống, cách làm việc và phương thức sản xuất của cá nhân, tổ chức” (1). Trong lĩnh vực thư viện, chuyển đổi số không đồng nhất với việc đơn thuần số hóa tài liệu hay ứng dụng công nghệ thông tin vào một số khâu nghiệp vụ, mà là quá trình tái cấu trúc toàn bộ hoạt động nghiệp vụ theo hướng số hóa, chuẩn hóa, liên thông và thông minh hóa. Điều này đòi hỏi sự đổi mới đồng bộ từ tư duy quản lý, quy trình nghiệp vụ đến phương thức phục vụ bạn đọc trong môi trường số. Đối với các NTQĐ, đổi mới nghiệp vụ thư viện gắn với chuyển đổi số còn chịu sự chi phối bởi những đặc thù của môi trường quân sự. Bởi vì, thư viện vừa thực hiện chức năng phục vụ GD,ĐT, nghiên cứu khoa học, vừa phải bảo đảm yêu cầu quản lý chặt chẽ, giữ vững nguyên tắc bảo mật thông tin quân sự. Vì vậy, đổi mới nghiệp vụ thư viện không thể áp dụng máy móc các mô hình thư viện số dân sự, mà phải được nghiên cứu, vận dụng phù hợp với đặc điểm nhiệm vụ, đối tượng phục vụ và cơ chế quản lý trong quân đội. Đây là điểm khác biệt căn bản, đồng thời cũng là yêu cầu đặt ra đối với việc đổi mới nghiệp vụ thư viện trong các NTQĐ hiện nay. Sự phát triển nhanh chóng của khoa học, công nghệ, đặc biệt là công nghệ số, trí tuệ nhân tạo và dữ liệu lớn, đang làm thay đổi sâu sắc phương thức tiếp cận, lưu trữ và sử dụng tri thức. Hoạt động GD,ĐT và nghiên cứu khoa học trong các NTQĐ ngày càng đòi hỏi nguồn tài liệu đa dạng, cập nhật, có khả năng truy cập linh hoạt, mọi lúc, mọi nơi. Trong khi đó, mô hình nghiệp vụ thư viện truyền thống với phương thức quản lý và phục vụ chủ yếu dựa trên tài liệu in và thao tác thủ công đã bộc lộ nhiều hạn chế, không còn đáp ứng đầy đủ yêu cầu của thực tiễn GD,ĐT trong môi trường số. Những năm gần đây, quán triệt chủ trương đổi mới GD,ĐT trong quân đội và yêu cầu ứng dụng khoa học, công nghệ, công tác thư viện ở các NTQĐ đã có những chuyển biến tích cực theo hướng hiện đại hóa và từng bước tiếp cận chuyển đổi số. Nhiều thư viện đã quan tâm đổi mới các khâu nghiệp vụ, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, tổ chức và khai thác tài liệu, qua đó từng bước nâng cao chất lượng phục vụ nhiệm vụ đào tạo và nghiên cứu khoa học. Trước hết, nghiệp vụ bổ sung và xử lý tài liệu ở một số thư viện trong các NTQĐ đã có sự đổi mới theo hướng chú trọng hơn đến tài nguyên số. Bên cạnh việc bổ sung tài liệu in truyền thống, nhiều thư viện đã quan tâm xây dựng cơ sở dữ liệu tài liệu điện tử, luận văn, luận án, đề tài khoa học, giáo trình nội bộ phục vụ giảng dạy và nghiên cứu. Công tác biên mục, tổ chức tra cứu từng bước được tin học hóa, góp phần rút ngắn thời gian tìm kiếm thông tin và nâng cao khả năng khai thác tài liệu của bạn đọc. Hoạt động phục vụ bạn đọc có những chuyển biến rõ nét theo hướng đa dạng hóa phương thức và hình thức phục vụ. Một số thư viện đã triển khai các dịch vụ tra cứu trực tuyến, đọc tài liệu số tại chỗ, hỗ trợ khai thác cơ sở dữ liệu phục vụ nghiên cứu khoa học. Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý mượn, trả, thống kê bạn đọc, theo dõi nhu cầu sử dụng tài liệu bước đầu mang lại hiệu quả, góp phần nâng cao tính chủ động và linh hoạt trong phục vụ cán bộ, giảng viên, học viên. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, thực trạng đổi mới nghiệp vụ thư viện các NTQĐ gắn với chuyển đổi số vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập. Nổi bật là mức độ chuyển đổi số trong nghiệp vụ thư viện chưa đồng đều giữa các nhà trường, chủ yếu mới dừng lại ở việc ứng dụng công nghệ thông tin hoặc số hóa một phần tài liệu, chưa thực sự chuyển đổi toàn diện mô hình nghiệp vụ. Nhiều quy trình nghiệp vụ vẫn vận hành theo tư duy truyền thống, thiếu sự tích hợp, liên thông và khai thác hiệu quả dữ liệu số. Công tác xây dựng và quản lý tài nguyên thông tin số còn phân tán, thiếu tính hệ thống. Cơ sở dữ liệu nội sinh ở nhiều thư viện chưa được chuẩn hóa đầy đủ, việc kết nối, chia sẻ tài nguyên thông tin giữa các NTQĐ còn hạn chế. Điều này dẫn đến tình trạng trùng lặp trong đầu tư tài liệu, trong khi khả năng khai thác và sử dụng tài nguyên số chưa tương xứng với tiềm năng sẵn có. Năng lực chuyển đổi số của đội ngũ cán bộ, nhân viên thư viện chưa theo kịp yêu cầu nhiệm vụ. Phần lớn cán bộ thư viện được đào tạo theo mô hình nghiệp vụ truyền thống, trong khi kiến thức, kỹ năng về công nghệ số, quản trị dữ liệu, khai thác và vận hành hệ thống thư viện số còn hạn chế. Để đổi mới nghiệp vụ thư viện các nhà trường quân đội gắn với chuyển đổi số hiện nay, cần triển khai một số giải pháp:   Một là, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các chủ thể trong đổi mới nghiệp vụ thư viện gắn với chuyển đổi số. Đổi mới nghiệp vụ thư viện các NTQĐ gắn với chuyển đổi số trước hết và quan trọng nhất phải bắt đầu từ việc nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các chủ thể có liên quan. Việc nâng cao nhận thức cần được thực hiện đồng bộ đối với cấp ủy, chỉ huy các cấp, cơ quan chức năng và đội ngũ cán bộ, nhân viên thư viện. Cấp ủy, chỉ huy các NTQĐ cần nhận thức đầy đủ rằng đổi mới nghiệp vụ thư viện gắn với chuyển đổi số là một bộ phận quan trọng của đổi mới GD,ĐT có tác động trực tiếp đến chất lượng giảng dạy, học tập và nghiên cứu khoa học. Trên cơ sở đó, cần tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo, đưa nội dung đổi mới nghiệp vụ thư viện vào nghị quyết, kế hoạch công tác của nhà trường, bảo đảm sự thống nhất về nhận thức và hành động trong tổ chức thực hiện. Đối với cơ quan chức năng và đội ngũ cán bộ, nhân viên thư viện, việc nâng cao nhận thức phải gắn liền với việc đổi mới tư duy nghiệp vụ, chuyển từ cách làm truyền thống sang tư duy quản lý và phục vụ trong môi trường số. Cán bộ, nhân viên thư viện cần nhận thức rõ vai trò chủ động, sáng tạo của mình trong quá trình chuyển đổi số, không chỉ là người thực hiện quy trình nghiệp vụ, mà còn là chủ thể tham mưu, đề xuất các giải pháp đổi mới phù hợp với đặc thù NTQĐ. Đồng thời, cần làm tốt công tác tuyên truyền, bồi dưỡng, tập huấn, nhận thức đúng đắn sẽ tạo động lực thúc đẩy hành động, góp phần hình thành sự đồng thuận và quyết tâm chính trị cao trong đổi mới nghiệp vụ thư viện gắn với chuyển đổi số, từ đó bảo đảm hiệu quả và tính bền vững của quá trình này. Hai là, hoàn thiện quy trình nghiệp vụ thư viện theo hướng số hóa, chuẩn hóa và liên thông. Đổi mới nghiệp vụ thư viện các NTQĐ gắn với chuyển đổi số chỉ thực sự đạt hiệu quả khi các quy trình nghiệp vụ được hoàn thiện theo hướng số hóa, chuẩn hóa và bảo đảm tính liên thông. Trước hết, các NTQĐ cần rà soát, điều chỉnh và hoàn thiện toàn bộ quy trình nghiệp vụ thư viện theo hướng tích hợp giữa nghiệp vụ truyền thống và nghiệp vụ số. Các khâu bổ sung, xử lý, lưu trữ và khai thác tài liệu cần được thiết kế lại phù hợp với môi trường số, bảo đảm mỗi tài liệu, đặc biệt là tài liệu số và tài liệu nội sinh, đều được quản lý thống nhất ngay từ khâu đầu vào. Việc chuẩn hóa các tiêu chuẩn biên mục, phân loại, mô tả dữ liệu không chỉ góp phần nâng cao chất lượng quản lý tài nguyên thông tin, mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho việc chia sẻ và liên thông dữ liệu giữa các thư viện trong hệ thống NTQĐ. Bên cạnh đó, hoàn thiện quy trình nghiệp vụ thư viện phải gắn với yêu cầu liên thông và khai thác dùng chung tài nguyên thông tin. Trên cơ sở bảo đảm nguyên tắc quản lý và bảo mật quân sự, các nhà trường cần từng bước xây dựng cơ chế kết nối, chia sẻ dữ liệu thư viện phù hợp, tránh đầu tư trùng lặp, đồng thời nâng cao khả năng khai thác tài nguyên thông tin phục vụ giảng dạy và nghiên cứu khoa học. Khi quy trình nghiệp vụ được chuẩn hóa và vận hành thống nhất, công tác thư viện sẽ chuyển từ cách làm manh mún sang mô hình quản lý hiện đại, tạo nền tảng vững chắc cho việc triển khai các ứng dụng công nghệ số nâng cao trong thời gian tới. Ba là, xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ, nhân viên thư viện đáp ứng yêu cầu đổi mới nghiệp vụ gắn với chuyển đổi số Trong quá trình đổi mới nghiệp vụ thư viện gắn với chuyển đổi số ở các NTQĐ, đội ngũ cán bộ, nhân viên thư viện giữ vai trò trực tiếp quyết định hiệu quả tổ chức thực hiện. Thực tiễn cho thấy, dù hệ thống cơ sở vật chất và công nghệ được đầu tư tương đối đồng bộ, nhưng nếu đội ngũ cán bộ, nhân viên thư viện thiếu năng lực chuyên môn, hạn chế về kỹ năng số và tư duy đổi mới thì công tác thư viện vẫn khó đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Vì vậy, xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ, nhân viên thư viện có bản lĩnh chính trị vững vàng, trình độ chuyên môn và năng lực ứng dụng công nghệ số là yêu cầu cấp thiết hiện nay. Trước hết, các NTQĐ cần quan tâm quy hoạch, bố trí và sử dụng đội ngũ cán bộ, nhân viên thư viện một cách hợp lý, bảo đảm tính ổn định và kế thừa. Việc lựa chọn, bổ nhiệm cán bộ, nhân viên thư viện không chỉ dựa trên tiêu chuẩn nghiệp vụ truyền thống, mà cần chú trọng năng lực tiếp cận và làm chủ công nghệ số, khả năng thích ứng với sự thay đổi của mô hình thư viện hiện đại. Trên cơ sở đó, cần xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng thường xuyên, cập nhật kiến thức mới về nghiệp vụ thư viện số, quản trị dữ liệu, an toàn thông tin, đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số trong môi trường quân sự. Bên cạnh nâng cao trình độ chuyên môn, việc phát triển đội ngũ cán bộ, nhân viên thư viện cần gắn với đổi mới tư duy phục vụ và tác phong công tác. Cán bộ, nhân viên thư viện phải chuyển từ tư duy “giữ kho, phát tài liệu” sang tư duy “cung cấp dịch vụ thông tin - tri thức”, chủ động hỗ trợ giảng viên, học viên trong khai thác và sử dụng tài nguyên số. Đồng thời, cần có cơ chế khuyến khích, động viên kịp thời đối với cán bộ, nhân viên thư viện tích cực đổi mới, sáng tạo trong công tác, qua đó tạo động lực thúc đẩy họ không ngừng nâng cao chất lượng nghiệp vụ, góp phần thực hiện hiệu quả mục tiêu đổi mới nghiệp vụ thư viện gắn với chuyển đổi số trong các NTQĐ. Bốn là, tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, hạ tầng kỹ thuật và bảo đảm an toàn thông tin trong đổi mới nghiệp vụ thư viện. Đổi mới nghiệp vụ thư viện gắn với chuyển đổi số ở các NTQĐ không thể tách rời việc đầu tư cơ sở vật chất, hạ tầng kỹ thuật và bảo đảm an toàn thông tin. Trước hết, các NTQĐ cần có kế hoạch đầu tư phù hợp, từng bước hiện đại hóa không gian thư viện, hệ thống máy chủ, thiết bị lưu trữ và đường truyền, bảo đảm đáp ứng yêu cầu khai thác tài nguyên số ngày càng gia tăng. Việc đầu tư cần gắn với lộ trình chuyển đổi số chung của nhà trường, tránh dàn trải, hình thức, đồng thời ưu tiên những hạng mục phục vụ trực tiếp cho đổi mới nghiệp vụ thư viện và nâng cao chất lượng phục vụ người dùng tin. Bên cạnh đó, cần chú trọng xây dựng hệ thống phần mềm quản lý thư viện đồng bộ, có khả năng mở rộng và tích hợp với các hệ thống thông tin khác trong nhà trường. Song song với đầu tư hạ tầng kỹ thuật, bảo đảm an toàn thông tin là yêu cầu đặc thù, mang tính nguyên tắc trong môi trường quân sự “Bảo đảm an ninh mạng, an ninh dữ liệu, an toàn thông tin của tỏ chức và cá nhân là yêu cầu xuyên suốt, không thể tách rời quá trình phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng  tạo và chuyển đổi số”(2). Các NTQĐ cần xây dựng và thực hiện nghiêm các quy định về quản lý, khai thác và bảo mật tài nguyên thông tin thư viện, nhất là đối với tài liệu số và tài liệu nội sinh. Việc kết hợp chặt chẽ giữa đầu tư hạ tầng kỹ thuật và các giải pháp bảo đảm an toàn thông tin sẽ giúp công tác thư viện phát triển theo hướng hiện đại, bền vững, đồng thời bảo đảm phục vụ hiệu quả nhiệm vụ GD,ĐT, nghiên cứu khoa học và xây dựng quân đội trong tình hình mới. Đổi mới nghiệp vụ thư viện các NTQĐ gắn với chuyển đổi số là yêu cầu khách quan, xuất phát từ nhiệm vụ nâng cao chất lượng GD,ĐT và nghiên cứu khoa học trong tình hình mới. Quá trình này đòi hỏi sự vào cuộc đồng bộ của cấp ủy, chỉ huy các cấp, sự đổi mới toàn diện về nhận thức, quy trình nghiệp vụ, ứng dụng công nghệ số, phát triển đội ngũ cán bộ và bảo đảm các điều kiện vật chất, kỹ thuật. Thực hiện tốt các giải pháp nêu trên sẽ góp phần xây dựng hệ thống thư viện NTQĐ theo hướng hiện đại, chuẩn hóa, từng bước hình thành môi trường học tập và nghiên cứu số hiệu quả. Qua đó, công tác thư viện sẽ phát huy tốt vai trò là trung tâm thông tin, tri thức, phục vụ đắc lực cho sự nghiệp đào tạo cán bộ và xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại. Thượng tá CN Trần Thị Thu Hiền Phòng Khoa học Quân sự - Học viện Chính trị   Tài liệu tham khảo (1) Bộ Thông tin và Truyền thông (2021). Cẩm nang chuyển đổi số. H. NXB Thông tin và truyền thông, Hà Nội, Tr.2. (2) Quân ủy Trung ương (2025). Nghị quyết số 3488-NQ/QUTW ngày 29/01/2025 về đột phá phát triển khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong quân đội, Hà Nội, Tr.2

Khơi dậy tinh thần thi đua mới: Sáng tạo, số hóa, làm chủ tương lai

BTĐKT – Những năm gần đây, Đảng ta đã ban hành nhiều nghị quyết chiến lược nhằm định hướng phát triển khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, tạo nền tảng để đất nước chủ động nắm bắt cơ hội từ cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Các nghị quyết này không chỉ định hình tầm nhìn phát triển dài hạn mà còn khơi dậy tinh thần thi đua trong toàn xã hội, nhất là khu vực kinh tế tư nhân - một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Tinh thần đổi mới và khát vọng bứt phá của doanh nghiệp tư nhân được thể hiện rõ qua những con số ấn tượng: Trong tổng mức đầu tư 3,4 triệu tỷ đồng của 234 công trình hạ tầng tiêu biểu khởi công ngày 19/12/2025, vốn tư nhân chiếm tới 82%, cho thấy niềm tin mạnh mẽ và sự chủ động của doanh nghiệp Việt Nam trước yêu cầu phát triển mới. Ủy viên Trung ương Đảng, Tổng Biên tập Báo Nhân dân phát biểu khai mạc hội thảo Dự thảo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng xác định chuyển đổi số là “cuộc cách mạng toàn diện”, hướng tới mục tiêu đưa kinh tế số chiếm hơn 40% GDP vào năm 2035, hình thành 10–15 tập đoàn công nghệ số “Make in Vietnam” có khả năng dẫn dắt hệ sinh thái đổi mới sáng tạo quốc gia. Cùng với đó, Quốc hội khóa XV đã khẩn trương cụ thể hóa các chủ trương lớn của Đảng thông qua việc sửa đổi, bổ sung và ban hành mới hệ thống pháp luật về khoa học – công nghệ, công nghiệp công nghệ số, dữ liệu, trí tuệ nhân tạo, an toàn thông tin và an ninh mạng, tạo môi trường pháp lý đồng bộ, minh bạch để doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư và đổi mới. Trong bối cảnh đó, sáng 9/1/2026 tại Hà Nội, Báo Nhân Dân phối hợp Ban Chính sách Chiến lược Trung ương tổ chức Hội thảo “Nghị quyết số 57-NQ/TW và 68-NQ/TW: Nền tảng để doanh nghiệp tư nhân đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số”. Đây không chỉ là một diễn đàn trao đổi chính sách mà còn là lời kêu gọi mạnh mẽ từ khát vọng dân tộc, cổ vũ tinh thần tăng tốc, bứt phá và tạo sức lan tỏa cho phong trào thi đua yêu nước trên nền tảng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Dự hội thảo có các Ủy viên Trung ương Đảng: Nguyễn Thanh Hải, Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội; Phạm Đại Dương, Phó Trưởng ban Chính sách, Chiến lược Trung ương; Lê Quốc Minh, Tổng Biên tập Báo Nhân Dân, Phó Trưởng ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương, Chủ tịch Hội Nhà báo Việt Nam; cùng lãnh đạo các bộ, ngành, nhà khoa học, chuyên gia và đại diện cộng đồng doanh nghiệp. Tại hội thảo, các ý kiến tham luận tập trung phân tích những yêu cầu cấp thiết trong hoàn thiện thể chế, tháo gỡ rào cản cho doanh nghiệp khoa học - công nghệ, tạo động lực tài chính cho đổi mới sáng tạo, đồng thời chia sẻ kinh nghiệm thực tiễn từ những mô hình chuyển đổi số thành công của doanh nghiệp tư nhân. Ông Phạm Đại Dương, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương đồng chủ trì hội thảo Nhiều chuyên gia nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, gắn kết Nhà nước - doanh nghiệp - viện trường và thúc đẩy mô hình nghiên cứu ứng dụng gắn với nhu cầu thị trường. Các đại biểu cũng làm rõ vai trò của hệ thống nghiên cứu công lập trong việc chuyển hóa kết quả nghiên cứu cơ bản thành công nghệ ứng dụng, góp phần nâng cao năng lực đổi mới sáng tạo quốc gia. Tại hội thảo, nhiều vấn đề then chốt được các đại biểu nêu ra, từ năng lực hấp thụ công nghệ của doanh nghiệp vừa và nhỏ đến yêu cầu hình thành cơ chế đặt hàng, giao nhiệm vụ để doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư các công nghệ lõi. Ông Đặng Tùng Sơn (Tập đoàn CMC) nhấn mạnh rằng để năm 2026 thật sự là năm tăng tốc, doanh nghiệp tư nhân cần được giao trọng trách đầu tư có trọng điểm vào các công nghệ lõi, làm chủ công nghệ, từ đó dẫn dắt thị trường và tạo sức bật mới cho đổi mới sáng tạo. TS Nguyễn Nhật Quang, Viện trưởng Viện Khoa học Công nghệ VINASA, cũng chỉ ra rằng các doanh nghiệp lớn đã cảm nhận rõ hiệu quả từ hai nghị quyết của Đảng, nhưng doanh nghiệp vừa và nhỏ vẫn cần thêm cơ chế hỗ trợ để tham gia sâu hơn vào tiến trình đổi mới sáng tạo quốc gia. Những trao đổi tại hội thảo không chỉ làm rõ định hướng chính sách mà còn tiếp thêm động lực để phong trào thi đua trong lĩnh vực khoa học - công nghệ lan tỏa mạnh mẽ hơn trong thực tiễn, góp phần hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng liên tục hai con số trong những năm tới, hướng tới các mốc lịch sử quan trọng như 100 năm thành lập Đảng vào năm 2030 và 100 năm thành lập nước vào năm 2045. Mai Thảo  

Đưa công tác thi đua, khen thưởng đi vào thực chất, tạo động lực thúc đẩy phát triển

Chiều 19/12, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Đặng Hoàng Oanh chủ trì cuộc họp Hội đồng thẩm định Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi đua, khen thưởng (TĐ,KT). Dự thảo Luật đã sửa đổi, bổ sung một số quy định để đưa công tác TĐ,KT đi vào thực chất, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ của từng Bộ, ngành, địa phương và của đất nước trong kỷ nguyên mới. Định lượng hóa các tiêu chuẩn Báo cáo một số nội dung chính trong hồ sơ dự án Luật tại cuộc họp, Trưởng Ban Thi đua - Khen thưởng Trung ương, Bộ Nội vụ Phạm Huy Giang cho biết, dự thảo Luật dự kiến sửa đổi, bổ sung 47 điều của Luật TĐ,KT. Nội dung sửa đổi, bổ sung các quy định liên quan đến tổ chức thi đua, danh hiệu thi đua và tiêu chuẩn danh hiệu thi đua; quy định tiêu chuẩn hình thức khen thưởng; quy định về thẩm quyền khen thưởng; trách nhiệm và thẩm quyền đề nghị khen thưởng; phân cấp, phân quyền, cải cách thủ tục hành chính trong TĐ,KT, quỹ TĐ,KT. Trong đó, đáng chú ý, dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung liên quan đến phạm vi thi đua, danh hiệu thi đua và tiêu chuẩn danh hiệu thi đua nhằm đồng bộ hóa danh hiệu với mô hình chính quyền địa phương 2 cấp và định lượng hóa các tiêu chuẩn. Chẳng hạn, sửa đổi, bổ sung tiêu chuẩn danh hiệu “Chiến sĩ thi đua cơ sở” từ “Đạt tiêu chuẩn danh hiệu “Lao động tiên tiến” hoặc “Chiến sĩ tiên tiến” bằng tiêu chuẩn “Được công nhận hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ” để đảm bảo tính tiêu biểu và thống nhất hơn của danh hiệu thi đua này. Liên quan đến khen thưởng, dự thảo Luật sửa đổi để làm rõ nguyên tắc “thành tích đến đâu khen thưởng đến đó, không nhất thiết phải có hình thức khen thưởng mức thấp mới được khen thưởng mức cao hơn” nhằm khen thưởng kịp thời, đặc biệt đối với các thành tích đột xuất, không cần phải chờ đợi quá trình tích lũy danh hiệu theo tuần tự. Bổ sung nguyên tắc “Chú trọng khen thưởng cá nhân, tập thể dám nghĩ, dám làm, dám đột phá vì lợi ích chung, có tư duy đổi mới sáng tạo, đi đầu trong chuyển đổi số, đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ mang lại hiệu quả thiết thực” và tiêu chí “quốc phòng, an ninh, đối ngoại, ứng dụng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số” nhằm thể chế hóa chủ trương của Đảng tại Nghị quyết 44-NQ/TW, Nghị quyết 57-NQ/TW, Nghị quyết số 59-NQ/TW… Quy định để thực hiện thống nhất, tránh khen thưởng tràn lan Tại cuộc họp, các ý kiến phát biểu tán thành với sự cần thiết ban hành Luật nhằm khắc phục những tồn tại, hạn chế của Luật hiện hành và giải quyết các vấn đề phát sinh trong thực tiễn, để công tác TĐ,KT đi vào thực chất, thực sự là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ của từng Bộ, ngành, địa phương và của đất nước trong kỷ nguyên mới. Nhất trí với nhiều nội dung sửa đổi, bổ sung tại dự thảo Luật, một số ý kiến đề nghị Cơ quan chủ trì soạn thảo tiếp tục rà soát những khó khăn, vướng mắc phát sinh từ thực tiễn trong quá trình thực hiện các quy định về TĐ,KT hiện hành để có giải pháp xử lý. Có ý kiến đề nghị, cần cân nhắc quy định rõ ràng, cụ thể về tiêu chí, nguyên tắc khen thưởng đột xuất để thực hiện thống nhất giữa các Bộ, ngành, địa phương. Đồng thời, cũng cần khống chế tỷ lệ này để đảm bảo tính thực chất của việc khen thưởng, tránh khen thưởng tràn lan. Kết luận cuộc họp, Thứ trưởng Đặng Hoàng Oanh, Chủ tịch Hội đồng thẩm định, đánh giá cao cơ quan chủ trì soạn thảo trong việc xây dựng hồ sơ dự án Luật. Thứ trưởng Đặng Hoàng Oanh đề nghị Cơ quan chủ trì soạn thảo tiếp tục rà soát, cụ thể hóa đầy đủ hơn các chủ trương, đường lối của Đảng liên quan đến công tác TĐ,KT trong tình hình mới. Cùng với đó, Thứ trưởng cũng lưu ý rà soát lại quy định về phạm vi điều chỉnh của dự thảo Luật để đảm bảo tính logic, rõ ràng, phù hợp với thực tế; rà soát các quy định của dự thảo Luật để đảm bảo tính thống nhất của hệ thống pháp luật. Chỉ ra một số quy định tại dự thảo Luật còn chung chung, khó áp dụng trên thực tế, Thứ trưởng đề nghị Cơ quan chủ trì soạn thảo quy định cụ thể hơn về những nội dung này. Theo https://moj.gov.vn  

Tạo nền tảng để công tác thi đua, khen thưởng của tổ chức Công đoàn đổi mới mạnh mẽ

BTĐKT - Sáng 28/11, tại Hà Nội, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam tổ chức Hội thảo lấy ý kiến góp ý, hoàn thiện quy chế khen thưởng của tổ chức công đoàn và đánh giá sơ kết 5 năm thực hiện Nghị quyết số 07/NQ-TLĐ của Ban Chấp hành Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam khóa XII về “Đổi mới công tác thi đua, khen thưởng trong công nhân, viên chức, lao động và hoạt động công đoàn”. Chủ trì hội thảo có các đồng chí: Thái Thu Xương, Phó Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam; Trần Thu Phương, Phó Trưởng ban Ban Công tác Công đoàn, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam. Toàn cảnh hội thảo Dự hội thảo có đại diện Thường trực, lãnh đạo ban và các cán bộ trực tiếp tham mưu công tác thi đua, khen thưởng các liên đoàn lao động tỉnh, thành phố, công đoàn ngành trung ương, công đoàn tổng công ty và đơn vị trực thuộc Tổng Liên đoàn; đại diện các công đoàn cơ sở có đông đoàn viên. Đồng chí Thái Thu Xương, Phó Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam phát biểu khai mạc hội thảo Phát biểu khai mạc hội thảo, đồng chí Thái Thu Xương, Phó Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam nhấn mạnh: Trong những năm vừa qua, công tác thi đua, khen thưởng của tổ chức Công đoàn luôn nhận được sự quan tâm chỉ đạo sâu sát của Đảng, Nhà nước và Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam. Tinh thần đổi mới, kịp thời, minh bạch và hướng mạnh về cơ sở đã được thể hiện nhất quán trong các văn bản chỉ đạo và trong thực tiễn triển khai. Theo tinh thần của Nghị quyết số 07/NQ-TLĐ ngày 15/01/2020 về “Đổi mới công tác thi đua, khen thưởng trong công nhân, viên chức, lao động và hoạt động công đoàn”, 5 năm qua, Tổng Liên đoàn đã tiến hành 2 lần sửa đổi Quy chế khen thưởng, bảo đảm phù hợp với Luật Thi đua, khen thưởng (sửa đổi), cùng các quy định mới của Nhà nước. Việc sửa đổi này đã giúp tháo gỡ nhiều vướng mắc thực tiễn, tạo hành lang pháp lý rõ ràng và nhất quán hơn cho hệ thống công đoàn các cấp, qua đó góp phần động viên, khích lệ kịp thời đoàn viên, người lao động và các tập thể có thành tích xuất sắc. Ở nhiều địa phương, đơn vị, các văn bản quy định về khen thưởng đã được rà soát, điều chỉnh phù hợp với tình hình mới; bảo đảm tiêu chí, quy trình, thẩm quyền được thực hiện đúng quy định, minh bạch, đặc biệt chú trọng tới lực lượng lao động trực tiếp - những người đang ngày đêm cống hiến trên các lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội. Đây là kết quả rất đáng ghi nhận, phản ánh tinh thần đổi mới mạnh mẽ trong toàn hệ thống công đoàn. Giai đoạn hiện nay, đất nước ta đang đẩy mạnh sắp xếp, tinh gọn bộ máy tổ chức theo chủ trương của Đảng và Nhà nước. Sự thay đổi về cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của các đơn vị, nhất là ở cấp tỉnh, ngành và các tổng công ty, đặt ra nhiều yêu cầu mới đối với công tác thi đua, khen thưởng. Trong bối cảnh tổ chức bộ máy có nhiều thay đổi, một số quy định trong Quy chế khen thưởng của Tổng Liên đoàn bộc lộ những điểm chưa phù hợp; một số tiêu chí, quy trình cần được điều chỉnh để đáp ứng thực tiễn mới. Hội thảo được tổ chức nhằm lấy ý kiến góp ý để hoàn thiện dự thảo Quy chế Thi đua Khen thưởng, đồng thời có cơ sở tổng kết đầy đủ kết quả 5 năm triển khai Nghị quyết số 07/NQ-TLĐ ngày 15/01/2020 về “Đổi mới công tác thi đua, khen thưởng trong công nhân, viên chức, lao động và hoạt động công đoàn”. Các đại biểu thảo luận tại hội thảo Tại hội thảo, các đại biểu cho rằng: Việc sửa đổi, bổ sung các quy định, tiêu chuẩn khen thưởng phải đảm bảo phù hợp với Luật Thi đua, Khen thưởng và các văn bản hướng dẫn hiện hành của Nhà nước.  Trong bối cảnh sắp xếp tổ chức bộ máy tinh gọn, các tiêu chí khen thưởng cần được xây dựng theo hướng trọng tâm, trọng điểm, rõ tiêu chí, nhấn mạnh giá trị thực chất của thành tích; tránh dàn trải, hình thức; bảo đảm tính khuyến khích đối với những nỗ lực thực sự nổi bật, đặc biệt là của đoàn viên và người lao động trực tiếp. Cần xác định rõ vai trò, thẩm quyền và trách nhiệm của từng cấp công đoàn trong công tác khen thưởng trong điều kiện cơ cấu tổ chức mới. Các đại biểu cũng đề xuất các giải pháp ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong quản lý thi đua, khen thưởng; góp phần chuẩn hóa dữ liệu, nâng cao hiệu quả thẩm định, xét duyệt và tạo thuận lợi cho cán bộ chuyên trách. Phương Thanh

Tinh thần bất diệt của Cách mạng tháng Tám năm 1945 mãi là nguồn gốc, động lực để thực hiện các phong trào thi đua yêu nước trong kỷ nguyên mới

BTĐKT - Diễn văn tại lễ Kỷ niệm 80 năm Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2/9/1945-2/9-2025) Tổng Bí thư Tô Lâm đã chỉ rõ: “Tổ quốc Việt Nam là kết tinh của truyền thống văn hiến nghìn năm dựng nước và giữ nước; của bản lĩnh kiên cường, trí tuệ, lòng nhân ái và khát vọng vươn lên. Tinh thần ấy đã hun đúc nên sức mạnh vĩ đại của Cách mạng tháng Tám”(1). Đã 80 năm trôi qua, đất nước đã có biết bao sự vận động, biến thiên trên các mặt của đời sống xã hội, xong tinh thần bất diệt của Cách mạng tháng Tám năm 1945 mãi trường tồn cùng năm tháng, thời gian, là nguồn gốc, động lực để toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta tăng tốc, bứt phá thực hiện thắng lợi các chỉ tiêu, nội dung của các phong trào thi đua yêu nước do Đảng, Nhà nước, cơ quan, đơn vị, địa phương phát động đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Cách mạng tháng Tám năm 1945 thắng lợi là sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc dưới ngọn cờ vẻ vang của Đảng Cộng sản Việt Nam Đoàn kết là truyền thống cực kỳ quý báu của dân tộc được truyền từ đời này sang đời khác, từ thế này qua thế hệ khác như những chỉ dẫn để đất nước ta vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách chiến thắng giặc ngoại xâm, thiên nhiên khắc nghiệt, trường tồn và phát triển mãi mãi. Ngay từ khi thực dân Pháp nổ súng xâm lược nước ta vào năm 1858, với truyền thống đoàn kết đã có từ lâu đời, các sĩ phu đã đoàn kết, tập hợp lực lượng rộng rãi trong xã hội đứng dậy chống lại cuộc chiến tranh xâm lược phi nghĩa của thực dân Pháp, bảo vệ từng “tấc đất, tấc vàng” thiêng liêng của tiên tổ để lại. Tuy nhiên, các cuộc đấu tranh, phong trào yêu nước của nhân dân ta đều thất bại, dìm trong biển máu vì thiếu một đường lối cách mạng đúng đắn; thiếu sự lãnh đạo của một giai cấp tiên tiến. Giữa lúc cách mạng Việt Nam đang bế tắc, khủng hoảng về đường lối, không xác định được mục tiêu, phương hướng con đường đấu tranh cách mạng đúng đắn cho dân tộc, Nguyễn Tất Thành (sau này là Nguyễn Ái Quốc, Chủ tịch Hồ Chí Minh) đã xuất hiện, đem lại một niềm hy vọng, tương lai tươi sáng cho đất nước sau này. Ngày 5/6/1911 Nguyễn Tất Thành đã rời bến nhà Rồng (Sài Gòn, nay là Thành phố Hồ Chí Minh) ra đi tìm đường cứu nước. Cuộc hành trình của Người trải qua nhiều quốc gia, dân tộc từ những trung tâm văn minh, náo nhiệt, sôi động, sầm uất cho đến những nơi cực khổ, bần hàn nhất thế giới. Một kết luận sâu sắc thấm đẫm giá trị nhân văn đã được Người rút ra: “Dù màu da có khác nhau, trên đời này chỉ có hai giống người: Giống người bóc lột và giống người bị bóc lột. Mà cũng chỉ có một mối tình hữu ái là thật mà thôi: Tình hữu ái vô sản”(2). Đây chính là cơ sở nền móng vững chắc đặt cách mạng Việt Nam vào dòng chảy của cách mạng thế giới, là một bộ phận của phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc trên thế giới. Trong quá trình ra đi tìm đường cứu nước, Người luôn tranh thủ tìm sự giúp đỡ, hỗ trợ, ủng hộ của các chính đảng tiến bộ, nhân dân yêu chuộng hoà bình thế giới đối với cách mạng Việt Nam. Tháng 7/1920 Người đọc bản Sơ thảo Luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa của V.I.Lênin. Bản luận cương đã chỉ cho Người con đường đấu tranh để giải phóng dân tộc, từ đó Người quyết định đi theo Lênin, đi theo con đường mà Cách mạng tháng Mười đã chọn và Người khẳng định: Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa cách mạng và chân chính nhất là chủ nghĩa Lênin. Đến đây, tương lai, tiền đồ và con đường cứu dân, cứu nước của Người đối với dân tộc đã rõ. Với nhãn quan chính trị nhạy bén, vào năm 1924, Người từ Liên Xô về Quảng Châu, Trung Quốc, lập ra Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, quy tụ những thanh niên - trí thức yêu nước ưu tú, mở nhiều lớp huấn luyện để đào tạo thành một lớp cán bộ tài năng đầu tiên của Đảng, chuẩn bị làm kách mệnh. Vì theo Người:“Kách mệnh là việc chung cả dân chúng chứ không phải việc một hai người”. Ảnh hưởng của Hội đến các phong trào yêu nước và cách mạng Việt Nam rất sâu rộng, các phong trào đấu tranh của công nhân và nhân dân lao động phát triển rất sôi nổi, đòi hỏi phải thành lập Đảng Cộng sản để đưa phong trào tiếp tục tiến lên. Được sự uỷ nhiệm của Quốc tế Cộng sản, Nguyễn Ái Quốc kịp thời xuất hiện. Với uy tín và tài năng của mình, Người đã đứng ra thống nhất các tổ chức cộng sản thành một đảng duy nhất: Đảng Cộng sản Việt Nam vào ngày 3/2/1930. Người là trung tâm của sự đoàn kết dân tộc, gạt bỏ các bất đồng trước đó và đi tới thống nhất phong trào Cộng sản Việt Nam là: Bỏ mọi thành kiến xung đột cũ, thành thật hợp tác để thống nhất các nhóm cộng sản Đông Dương. Ngay sau khi Đảng ra đời, một cao trào cách mạng sôi nổi đã diễn ra trên phạm vi cả nước với đỉnh cao là hàng chục cuộc biểu tình ở Nghệ An và Hà Tĩnh dẫn đến sự ra đời của các làng đỏ - Xô viết. Tuy phong trào nhanh chóng bị dìm trong bể máu nhưng trong cao trào cách mạng này “công nông đã bắt tay nhau giữa trận tiền” - yếu tố nền tảng của khối đại đoàn kết dân tộc đã hình thành trên thực tế, làm nên cao trào cách mạng sôi nổi trong cả nước, đỉnh cao là Xô viết - Nghệ Tĩnh. Bước sang năm 1936, tình hình trong nước và thế giới có nhiều biến đổi quan trọng, Đảng đã kịp thời chuyển hướng chỉ đạo chiến lược, đổi mới mạnh mẽ công tác vận động và tổ chức quần chúng. Một cao trào đấu tranh mạnh mẽ tiếp tục dâng cao khắp cả nước, lôi cuốn không chỉ hàng triệu quần chúng công nhân, nông dân, mà cả những tầng lớp yêu nước khác như trí thức, tiểu thương, tiểu chủ, địa chủ, thân hào và tư sản dân tộc... Đến thời kỳ này, khối đoàn kết dân tộc được mở rộng và củng cố thêm một bước, tạo điều kiện đoàn kết hết thảy các giai tầng trong cả nước vùng lên giành chính quyền khi thời cơ chín muồi. Chiến tranh thế giới thứ 2 bùng nổ vào ngày 1/9/1939, tình hình quốc tế và trong nước chuyển biến hết sức mau lẹ và sâu sắc. Tháng 11/1939, Đảng ta đã kịp thời điều chỉnh đường lối chiến lược và sách lược cho phù hợp với tình hình. Với sự trở về của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, Hội nghị Ban chấp hành Trung ương lần thứ 8 của Đảng họp vào từ ngày 10 đến 19/5/1941 đã hoàn chỉnh chủ trương chuyển hướng chiến lược cách mạng của Đảng, mở ra con đường đi tới thắng lợi của cuộc đấu tranh yêu nước, giải phóng dân tộc của nhân dân ta. Hội nghị khẳng định: Cuộc cách mạng Đông Dương trong giai đoạn hiện tại là một cuộc cách mạng dân tộc giải phóng; do vậy: Trong lúc này quyền lợi của bộ phận của giai cấp phải đặt dưới sự sinh tử, tồn vong của quốc gia, của dân tộc. Để phát huy tối đa sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước, của tinh thần dân tộc, Hội nghị chủ trương thành lập Mặt trận Việt Nam độc lập Đồng Minh (Việt Minh), đặt mục tiêu của cuộc cách mạng trong phạm vi từng dân tộc ở Đông Dương để xem xét và giải quyết một cách cụ thể. Sự ra đời của mặt trận Việt Minh đánh dấu một bước ngoặt trong đường lối lãnh đạo cách mạng hướng tới việc mở rộng và củng cố khối đại đoàn kết dân tộc, quy tụ và phát huy cao độ nội lực dân tộc cho một cuộc hồi sinh vĩ đại. Lần đầu tiên chủ trương đoàn kết dân tộc của Đảng được đặt trên cơ sở của chủ nghĩa yêu nước Việt Nam. Chủ trương này được thực hiện nhất quán trong công tác vận động quần chúng của Đảng. Vì vậy, mặt trận Việt Minh không chỉ làm cho khối đại đoàn kết dân tộc được mở rộng, củng cố không ngừng, mà còn là phương tiện nâng lực lượng của khối đại đoàn kết ấy lên gấp bội thông qua việc biến khối đại đoàn kết thành một tổ chức có sức chiến đấu cao. Dưới sự lãnh đạo của Đảng và lãnh tụ Hồ Chí Minh, thông qua Việt Minh, dân tộc ta không những đã đoàn kết lại mà lần đầu tiên còn biết cách đoàn kết có hiệu quả cao nhất. Từ sau khi ra đời, mặt trận Việt Minh đã nhanh chóng trở thành hạt nhân quy tụ sức mạnh đoàn kết dân tộc. Lực lượng cách mạng đứng dưới ngọn cờ đại nghĩa của Việt Minh ngày càng được mở rộng và phát triển không ngừng. Tuy nhiên, trong bối cảnh của những diễn biến rất phức tạp và mau chóng của thời cuộc, những bất đồng, dị biệt cố hữu của dân tộc vốn được thực dân Pháp và phát-xít Nhật lợi dụng, khoét sâu thêm, không phải dễ dàng gì một sớm một chiều vượt qua được. Trong hàng ngũ những người Việt Nam yêu nước, không ít người đã bị những chiêu bài tuyên truyền của thực dân Pháp, phát xít Nhật hoặc quân phiệt Trung Hoa lung lạc lôi kéo. Trên thực tế, lực lượng yêu nước và khối đại đoàn kết dân tộc cho đến trước ngày Tổng khởi nghĩa Tháng 8/1945 vẫn chưa khắc phục được hoàn toàn sự chia rẽ, nghi ngại, thậm chí bài xích lẫn nhau. Ngay trong nội bộ Đảng và mặt trận Việt Minh cũng còn tồn tại ở một số địa phương, nhất là ở Trung Kỳ và Nam Kỳ, tình trạng chia rẽ, phân liệt. Đây là tình hình rất nghiêm trọng, nhất là khi thời cơ tổng khởi nghĩa giành chính quyền đang đến rất gần. Trong một bức thư gửi các cán bộ Đảng ở Trung Kỳ, Tổng bí thư Trường Chinh đã nghiêm khắc chỉ thị: “Phải kíp chạy lại dưới lá cờ chói lọi của Đảng... Không thể biệt phái chia rẽ! Không thể do dự, hoài nghi!”. Đối với cán bộ Đảng ở Nam Kỳ, đồng chí Trường Chinh chỉ rõ: Chúng ta sẽ phạm phải một tội lớn, nếu trước giờ quyết liệt, chúng ta còn chia rẽ mãi. Giữa lúc đó, ngay từ ngày 13/8/1945 có tin Nhật Hoàng chấp nhận đầu hàng Đồng minh. Ngay đêm đó, Ủy ban khởi nghĩa toàn quốc đã phát lệnh tổng khởi nghĩa. Ngày 15/8, tin Nhật đầu hàng chính thức được công bố. Tại Tân Trào, từ nhiều ngày trước đó, mặc dù bị ốm nặng, Hồ Chí Minh vẫn quan tâm, hối thúc việc triệu tập Quốc dân Đại hội. Theo chỉ thị của Người, ngày 16/8 Quốc dân Đại hội chính thức khai mạc, tượng trưng cho ý chí, nguyện vọng và khối đại đoàn kết toàn dân tộc, thông qua đề nghị tổng khởi nghĩa của mặt trận Việt Minh, để đem sức ta tự giải phóng cho ta. Làn sóng đấu tranh sục sôi do Việt Minh và các lực lượng yêu nước khác tiến hành đã đánh thức và cổ vũ lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết vì đại nghĩa dân tộc của cả những tầng lớp và cá nhân vốn có quá khứ gắn chặt với chế độ thực dân. Cả dân tộc muôn người như một vùng lên giành chính quyền về tay mình. Không khí Tổng khởi nghĩa diễn ra sôi nổi khắp cả nước. Hành động vùng dậy lay trời chuyển đất của hàng triệu quần chúng, tạo nên một ưu thế áp đảo, giáng một đòn quyết định vào tất cả cơ quan đầu não của bọn việt gian, làm tê liệt mọi sự kháng cự của các thế lực thù địch, khiến chúng không kịp trở tay, giành chính quyền về tay nhân dân. Cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền Cách mạng tháng Tám đã thành công rực rỡ trong cả nước vào ngày 28/8/1945. Ngày 30/8/1945, Bảo Đại tuyên chiếu thoái vị, trao ấn vàng, kiếm nạm ngọc lại cho đại diện Việt Minh và kêu gọi hoàng tộc và toàn dân đoàn kết “đoàn kết thì sống, chia rẽ thì chết”. Chỉ trong vòng 15 ngày, cuộc Tổng khởi nghĩa đã thành công trong cả nước. Ngày 2/9/1945, tại vườn hoa Ba Đình - Hà Nội, thay mặt Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Bản Tuyên ngôn Độc lập, tuyên bố trước toàn thể quốc dân đồng bào và thế giới về sự ra đời của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và khẳng định toàn thể dân tộc Việt Nam quyết tâm đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy. Nguồn gốc, động lực để thực hiện các phong trào thi đua yêu nước trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Kỷ niệm 80 năm ngày Cách mạng tháng Tám thành công (19/8/1945-19/8/2025) là dịp để mỗi người dân Việt Nam và kiều bào ta ở nước ngoài cùng nhau ôn lại những năm tháng hào hùng của lịch sử dân tộc; chiêm nghiệm về thời kỳ đau thương nhưng đầy tự hào của ông cha đã không tiếc máu xương, dâng hiến cuộc đời và tuổi thanh xuân cho nền độc lập, tự do của dân tộc. Tinh thần bất diệt của Cách mạng tháng Tám năm 1945 đã truyền nhuệ khí mạnh mẽ cho các thế hệ, trở thành sức mạnh vật chất, tinh thần to lớn trong sự nghiệp đấu tranh cách mạng giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc, cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Đó là sức mạnh phi thường của tinh thần đoàn kết, không một vũ khí nào của kẻ thù có thể công phá được. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta đã đoàn kết, thực hiện thắng lợi các yêu cầu, nhiệm vụ của cách mạng đặt ra ở từng giai đoạn, thời điểm. Các phong trào thi đua yêu nước đã cổ vũ, động viên, khích lệ các tầng lớp nhân dân nêu cao tinh thần đoàn kết, tương thân, tương ái, giúp đỡ nhau trong mọi điều kiện, hoàn cảnh để hoàn thành tốt chức trách, nhiệm vụ của một công dân đối với Tổ quốc. Tinh thần bất diệt của Cách mạng tháng Tám năm 1945 là những chỉ dẫn quý báu để mỗi người dù ở cương vị, chức trách nào đều phải nêu cao tinh thần tự hào dân tộc, đề cao tinh thần, trách nhiệm ở mọi lúc, mọi nơi, không kiêu ngạo cộng sản, đặt ra yêu cầu cao cho bản thân trong từng lĩnh vực, hoạt động cụ thể. Không ngừng nỗ lực trong công việc, cuộc sống, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc, cùng với hệ thống chính trị thực hiện tốt mô hình hoạt động chính quyền địa phương hai cấp. Hiện nay, các cơ quan, đơn vị, địa phương đang tổ chức Đại hội đại biểu các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng. Vì vậy, phát huy tinh thần bất diệt của Cách mạng tháng Tám năm 1945, các phong trào thi đua yêu nước cần hướng vào tuyên truyền, giáo dục truyền thống yêu nước, niềm tự hào, tự tôn dân tộc; ý chí, bản lĩnh của con người Việt Nam không khuất phục trước kẻ thù xâm lược; tinh thần đoàn kết, đồng lòng, nhất trí của mọi người; sức mạnh của quần chúng nhân dân trong thực hiện các phong trào thi đua tại địa phương; xây dựng điển hình tiên tiến phù hợp với đặc điểm tình hình, yêu cầu, nhiệm vụ mỗi cơ quan, đơn vị, địa phương; kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”, trong đó là “xây” là cơ bản, phổ biến sâu rộng những kinh nghiệm hay, cách làm sáng tạo của các tập thể, cá nhân trong xây dựng cơ quan, đơn vị, địa phương trong sạch, vững mạnh. Tích cực, chủ động đấu tranh với những biểu hiện ngại khó, ngại khổ, đùn đẩy trách nhiệm, không gắn với tập thể. Tinh thần bất diệt của Cách mạng tháng Tám năm 1945 đã hoà mình vào dòng chảy liên tục không ngừng của cuộc cách mạng dân tộc, viết tiếp những chiến công, thắng lợi mới trong sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, mở cửa, hội nhập quốc tế sâu rộng đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới. Các phong trào thi đua yêu nước đang diễn ra ở các cơ quan, đơn vị, địa phương hiện nay chính là sự thể hiện tinh thần bất diệt đó. Đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm đã nhấn mạnh: “Dưới ngọn cờ vinh quang của Đảng, với ánh sáng Hồ Chí Minh soi đường, dựa vào sức mạnh nhân dân và khối đại đoàn kết toàn dân tộc, không có khó khăn, thử thách nào mà dân tộc ta không đạt tới. Chính vì vậy, không có lực cản nào, không có lý do gì có thể ngăn bước chúng ta vươn tới hoà bình, thịnh vượng, dân tộc ta trường tồn và phát triển”(3). Chú thích 1, 2. Toàn văn diễn văn tại Lễ kỷ niệm 80 năm Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2/9/1945-2/9/2025) Tổng Bí thư Tô Lâm, https://baolaodong.vn, ngày 2/9/2025. 2. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t.1, tr.287. Thượng tá, ThS Nguyễn Ánh Thuần Viện KHXH$NVQS, Học viện Chính trị    

Tư tưởng Hồ Chí Minh về thi đua yêu nước mãi là ngọn đuốc soi sáng con đường phát triển của cách mạng Việt Nam

BTĐKT - Chủ tịch Hồ Chí Minh kiến trúc sư về tổ chức thực hiện các phong trào thi đua yêu nước, người đặt nền móng cho các hoạt động thi yêu nước diễn ra trên tất cả các ngành, lĩnh vực hiện nay. Mỗi một phong trào thi đua yêu nước do Người tổ chức phát động có sức lôi cuốn kỳ lạ, phù hợp với mọi thành phần, lực lượng, ai cũng tham gia thực hiện được. Những phong trào thi đua đó không chỉ dừng lại ở những khẩu hiệu, lời tuyên truyền, vận động mà được Người nâng lên thành hệ thống những quan điểm, tư tưởng lãnh đạo, chỉ đạo, có tác dụng cổ vũ, động viên mỗi người nêu cao ý chí quyết tâm trong sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc, xây dựng đời sống văn hoá mới đem lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân. Qua thời gian, tư tưởng Hồ Chí Minh về thi đua yêu nước mãi là ngọn đuốc soi sáng con đường phát triển đi lên của cách mạng Việt Nam, góp phần khơi dậy các nguồn lực, tạo ý chí, niềm tin, động lực mạnh mẽ, to lớn để con người vươn lên làm giàu chính đáng. Ngay sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, đất nước đứng trước muôn vàn, khó khăn, thử thách, ở vào tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”, đối phó với giặc đói, giặc rốt và giặc ngoại xâm. Trước tình hình đó, Người đã chủ trương kêu gọi đồng bào, chiến sĩ cả nước hãy xóa nạn mù chữ bằng việc mở lớp “Bình dân nha học vụ”; thực hành tiết kiệm, phá kho thóc của giặc Nhật để cứu đói, mời gọi những nhân tài ra giúp dân, giúp nước; thực hiện phương châm “Dĩ bất biến, ứng vạn biến” để giữ chính quyền cách mạng non trẻ. Với tài thao lược của Người, được sự giúp đỡ, ủng hộ của nhân dân, trí thức yêu nước, chính quyền cách mạng nước ta từng bước vượt qua nguy hiểm, giữ vững được thành quả cách mạng. Để thúc đẩy các hoạt động đấu tranh chống giặc ngoại xâm, lao động tăng gia sản xuất, ngày 11/6/1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra “Lời kêu gọi thi đua ái quốc” nhằm huy động sức người, sức của cho sự nghiệp kháng chiến. Trong lời kêu gọi, Người đã nhấn mạnh: Mỗi người dân Việt Nam, bất kỳ già, trẻ, gái trai, bất kỳ giàu nghèo, lớn nhỏ đều cần phải trở nên một chiến sĩ đấu tranh trên mặt trận quân sự, kinh tế, chính trị, văn hóa. Sau “Lời kêu gọi thi đua ái quốc” của Người, một loạt các phong trào thi đua yêu nước đã xuất hiện như hoa mùa xuân trên tất cả các ngành, lĩnh vực của đời sống xã hội, tạo thành những làn gió mới thổi vào mọi hoạt động của con người, đem đến niềm tin, ý chí quyết tâm cao độ trong kháng chiến, kiến quốc. Những tư tưởng về thi đua yêu nước của Người, như: Thi đua là yêu nước, yêu nước thì phải thi đua, những người thi đua là những người yêu nước nhất; thi đua phải dựa vào sức mạnh của nhân dân, tin ở dân, đem lại hạnh phúc cho nhân dân; thi đua là để giúp nhau cùng tiến bộ, phát triển sửa chữa khuyết điểm, ưu điểm, lan tỏa gương người tốt, việc tốt, chứ không phải là ganh đua; thi đua phải gắn liền với công tác khen thưởng và đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, phải thường xuyên kiểm tra, đôn đốc, nhắc nhở trong thi đua… vẫn còn nguyên giá trị, mang tính thời sự nóng hổi, đặt ra cho mỗi cấp, mỗi ngành phải quán triệt, vận dụng linh hoạt, sáng tạo vào từng thời điểm, giai đoạn cụ thể ở mỗi cơ cơ quan, đơn vị, địa phương mình trong việc khơi dậy nguồn lực con người, phục vụ cho nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững ổn định chính trị, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp, người dân lao động sản xuất. Tư tưởng Hồ Chí Minh về thi đua yêu nước không chỉ có giá trị ở thời điểm lịch sử đất nước đang đấu tranh với thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược để giành độc lập tự do, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, mà còn có tác dụng trong giai đoạn hiện nay, khi mà toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta đang nô nức, phấn khởi thi đua lập nhiều thành tích chào mừng thành công Đại hội lần thứ XIII của Đảng; chung sức, đồng lòng “thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả với dịch bệnh”, hoàn thành các chỉ tiêu, nội dung thi đua mà các cấp, các ngành đã xác định. Đối với giai đoạn kháng chiến, kiến quốc, tư tưởng về thi đua yêu nước của Người đã trở thành mệnh lệnh của cuộc sống, là lời hịch vang vọng non sông đất nước, kêu gọi đồng bào phát huy truyền thống yêu nước đánh giặc ngoại xâm của ông cha trong lịch sử, dũng cảm đứng lên đem sức ta mà giải phóng cho ta, xây dựng cuộc sống mới, được hưởng thành quả lao động do chính mình làm ra. Những phong trào thi đua yêu nước như: Sóng Duyên Hải, Gió Đại Phong, Cờ Ba Nhất, Ba sẵn sàng, Ba đảm đang… là kết quả của sự hưởng ứng sôi nổi Lời kêu gọi thi đua ái quốc của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Mỗi phong trào mang sắc thái riêng, biểu hiện ở những khía cạnh cụ thể đặc trưng, tiêu biểu cho từng ngành, lĩnh vực, song sự biểu đạt đó đều mang đặc điểm chung, thống nhất là thi đua vượt chỉ tiêu đề ra, đánh thắng quân giặc xâm lược, góp thêm những chiến công oanh liệt bằng vàng của tượng đài lịch sử đấu tranh chống giặc ngoại xâm của dân tộc. Hiện nay, nước ta bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, mở cửa, hội nhập sâu rộng vào thế giới, tư tưởng về thi đua của Người vẫn tiếp tục là kim chỉ nam định hướng cho mọi hoạt động cách mạng của Đảng ta, nhất là trong tổ chức các phong trào thi đua yêu nước cho phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ của tình hình mới. Nhiều phong trào thi đua yêu nước hiện nay, như: Nông dân sản xuất, kinh doanh giỏi; Đền ơn đáp nghĩa; Thanh niên lập nghiệp; Vì Trường Sa, Hoàng Sa thân yêu; Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới; Mỗi xã một sản phẩm; Xây dựng khu nông thôn mới kiểu mẫu; Trái tim cho em; Vì người nghèo - Không để ai bị bỏ lại phía sau… là sự tiếp nối mạch nguồn Lời kêu gọi thi đua ái quốc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhưng mang hơi thở mới, dấu ấn mới trên con đường đổi mới, hội nhập và đưa đất nước phát triển ổn định, bền vững, cường thịnh, có vị thế, uy tín, tiềm lực ngày càng cao. Hiện nay, tình hình thế giới, khu vực và trong nước có nhiều diễn biến nhanh chóng, phức tạp, khó đoán định, thời cơ, vận hội đan xen với nguy cơ, thách thức, song dòng chảy chính của lịch sử vẫn là hòa bình, hợp tác và phát triển, chuyển từ đối đầu sang đối thoại, hai bên cùng có lợi; mọi mâu thuẫn, tranh chấp, bất đồng đều dựa trên luật pháp quốc tế, công ước của Liên hợp quốc, sự đồng tình, ủng hộ của nhiều nước và nhân dân thế giới… Bối cảnh đó, đặt ra cho chúng ta hiện nay, phải tranh thủ tận dụng những điều kiện thuận lợi hiện có, sự giúp đỡ từ bên ngoài, tích cực, chủ động vượt qua khó khăn, thách thức, nêu cao khí phách, truyền thống tốt đẹp của ông cha trong lịch sử đã từng làm rạng rỡ đất nước, để biến nguy thành cơ, tạo thành nguồn năng lượng dự trữ dồi dào, sẵn sàng cất cánh khi thiên thời, địa lợi, nhân hòa đã ủng hộ. Muốn vậy, chúng ta phải luôn khắc ghi, quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh về thi đua yêu nước và vận dụng linh hoạt, sáng tạo vào điều kiện, hoàn cảnh lịch sử cụ thể ở mỗi cơ quan, đơn vị, địa phương; đề ra những chỉ tiêu, nội dung thi đua sát hợp, khơi dậy được ý chí, khát vọng vươn lên của mỗi người; từng người dù ở cương vị, chức trách nào cũng phải thấm vào trong tim và óc của mình tư tưởng Hồ Chí Minh về thi đua yêu nước; học Bác và làm theo Bác không chỉ dừng lại ở lời nói cho hay, cho có, nói suông mà không làm; từ lời nói phải biến thành hành động cụ thể, thiết thực gắn với chức trách, nhiệm vụ được giao. Để làm được việc đó, cán bộ, đảng viên các cấp thường xuyên làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục để nâng cao nhận thức, trách nhiệm cho mỗi người; đa dạng hóa các nội dung, hình thức, biện pháp thi đua để tập hợp, đoàn kết mọi người; tổ chức những hoạt động thi đua phù hợp với từng ngành, lĩnh vực, có động viên, khen thưởng kịp thời đối với mỗi người khi tham gia vào các phong trào thi đua yêu nước; làm tốt công tác đôn đốc, kiểm tra, nhắc nhở, uốn nắn bộ phận, lực lượng làm chưa tốt, có biểu hiện được chăng hay chớ, trống đánh xuôi, kèn thổi ngược… Nêu cao tinh thần đoàn kết, yêu thương, giúp đỡ lẫn nhau trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, không được “cua cậy càng, cá cậy vây”, mạnh được, yếu thua hoặc cục bộ, địa phương, kèn cựa lẫn nhau. Phát huy tốt vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu trong lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện các phong trào thi đua yêu nước, là hạt nhân, trung tâm của đoàn kết, hóa giải mọi hiềm khích, xích mích, bất đồng trong công tác, cuộc sống của mỗi người; luôn gương mẫu đi đầu trong mọi hoạt động, lời nói và hành động đi liền với nhau, có năng lực tổ chức điều hành mọi việc; giữ vững bản lĩnh, ý chí của người cán bộ, đảng viên, nhất là về phẩm chất đạo đức, lối sống, ứng xử nơi làm việc, địa bàn sinh sống; xây dựng bầu không khí dân chủ, cởi mởi, tin cậy, chân thành, giúp đỡ lẫn nhau trong quá trình làm việc, thân thiện, hoà nhã với địa bàn sinh sống. Không ngừng tự tu dưỡng phấn đấu học tập, rèn luyện về mọi mặt, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ đặt ra ngày càng cao của sự nghiệp phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc hiện nay, tránh xa lợi ích vật chất, tiền tài, danh vọng, quyền lực; giữ mình trong mọi lúc, mọi nơi, không say sưa ngủ quên trên vòng nguyệt quế của vinh quang. Thường xuyên làm tốt công tác sơ kết, tổng kết thực hiện phong trào thi đua yêu nước ở mỗi cơ quan, đơn vị, địa phương. Sau mỗi lần tổ chức thực hiện các phong trào thi đua yêu nước, mỗi cơ quan, đơn vị, địa phương cần sơ kết, tổng kết đánh giá kết quả thực hiện toàn diện trên các mặt hoạt động đã làm được gì, chưa làm được gì, đề ra phương hướng, nhiệm vụ thời gian tới được tốt hơn; đồng thời, kịp thời, biểu dương, khen thưởng những tập thể, cá nhân có nhiều cách làm hay, sáng tạo, thu được những thắng lợi nhất định ở các phong trào thi đua yêu nước; chấn chỉnh, nhắc nhở, uốn nắn với tập thể, cá nhân chấp hành chưa nghiêm các quy định của phong trào thi đua yêu nước, chưa sáng tạo, còn thụ động, chậm trễ trong xử trí các tình huống, sự việc trong thực hiện các phong trào thi đua yêu nước; mỗi tập thể, cá nhân cần ý thức cao vai trò, trách nhiệm của mình khi thực hiện các nội dung, biện pháp ở cơ quan, đơn vị, địa phương để tạo sự chuyển biến tích cực về nhận thức và hành động cách mạng, đem lại những thắng lợi từng phần của các nội dung, chỉ tiêu thi đua mà mỗi cấp, ngành đề ra. Đại hội lần thứ XIII của Đảng tiếp tục khẳng định: Kiên định và không ngừng vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh phù hợp với thực tiễn Việt Nam trong từng giai đoạn. Đó chính là cội nguồn của mọi thắng lợi, là cuốn cẩm nang thần kỳ, mặt trời soi sáng con đường phát triển cách mạng Việt Nam. Mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu cơ quan, đơn vị, địa phương phải tự giác tu dưỡng phấn đấu rèn luyện về đạo đức, lối sống, tự học tập để nâng cao trình độ năng lực, giữ cho được hai chữ “Liêm và sỉ” đó là bảo bối tốt nhất để học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh về thi đua yêu nước hiện nay; nêu cao tinh thần đoàn kết, thống nhất về nhận thức, hành động cách mạng, bắt tay vào thực hiện ngay công việc sau khi đã hoàn thành việc sắp xếp, tinh gọn bộ máy của hệ thống chính trị các cấp, đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Trần Văn Tưởng Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng  

Phân cấp, phân quyền trong lĩnh vực thi đua, khen thưởng

 Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 152/2025/NĐ-CP quy định về phân cấp, phân quyền trong lĩnh vực thi đua, khen thưởng; quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi đua, khen thưởng. Nghị định quy định rõ về phân cấp, phân quyền cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn quản lý nhà nước về thi đua, khen thưởng. Thủ tướng Chính phủ quy định chi tiết thủ tục cấp đổi, cấp lại hiện vật khen thưởng cấp Nhà nước Theo đó , nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ quy định tại Luật Thi đua, khen thưởng phân quyền Thủ tướng Chính phủ thực hiện gồm: a) Quy định chi tiết mẫu, màu sắc, số sao, số vạch cho từng loại, hạng huân chương, huy chương, huy hiệu của danh hiệu "Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân", danh hiệu "Anh hùng Lao động", danh hiệu "Bà mẹ Việt Nam anh hùng", danh hiệu "Chiến sĩ thi đua toàn quốc", kỷ niệm chương; chất liệu, kích thước khung các loại huân chương, huy chương, bằng, cờ, giấy khen của các danh hiệu thi đua và hình thức khen thưởng theo khoản 2 Điều 12 của Luật Thi đua, khen thưởng; b) Quy định chi tiết thủ tục cấp đổi, cấp lại hiện vật khen thưởng cấp Nhà nước theo khoản 2 Điều 12 của Luật Thi đua, khen thưởng; c) Quy định chi tiết trách nhiệm của cá nhân, tổ chức Việt Nam khi nhận hình thức khen thưởng của cá nhân, tổ chức nước ngoài theo khoản 2 Điều 14 của Luật Thi đua, khen thưởng; d) Quy định việc xét tôn vinh và trao tặng danh hiệu, giải thưởng cho doanh nhân, doanh nghiệp và tổ chức kinh tế khác theo khoản 3 Điều 81 của Luật Thi đua, khen thưởng; đ) Quy định chi tiết về thẩm quyền đề nghị, trình khen thưởng đối với doanh nghiệp, tổ chức kinh tế khác theo khoản 7 Điều 83 của Luật Thi đua, khen thưởng; e) Quy định chi tiết khen thưởng theo thủ tục đơn giản theo khoản 2 Điều 85 của Luật Thi đua, khen thưởng; g) Quy định chi tiết trình tự, thủ tục xét tặng, truy tặng "Huy chương Thanh niên xung phong vẻ vang" theo khoản 3 Điều 96 của Luật Thi đua, khen thưởng; h) Hướng dẫn việc thực hiện khoản 1 và khoản 2 Điều 96 theo quy định tại khoản 3 Điều 96 của Luật Thi đua, khen thưởng. Nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ quy định tại Luật Thi đua, khen thưởng phân cấp cho bộ, ban, ngành, tỉnh thực hiện gồm: a) Quy định chi tiết thủ tục cấp đổi, cấp lại hiện vật khen thưởng thuộc thẩm quyền của bộ, ban, ngành, tỉnh theo khoản 2 Điều 12 của Luật Thi đua, khen thưởng; b) Quy định hồ sơ, thủ tục đề nghị xét tặng danh hiệu thi đua, hình thức khen thưởng thuộc thẩm quyền của bộ, ban, ngành, tỉnh theo khoản 7 Điều 84 Luật Thi đua, khen thưởng gồm: Cờ thi đua của bộ, ban, ngành, tỉnh; Chiến sĩ thi đua bộ, ban, ngành, tỉnh; "Tập thể lao động xuất sắc"; "Đơn vị quyết thắng"; xã, phường, đặc khu tiêu biểu; Bằng khen, Kỷ niệm chương theo khoản 7 Điều 84 của Luật Thi đua, khen thưởng; c) Quy định hồ sơ thủ tục đề nghị xét tặng danh hiệu thi đua, hình thức khen thưởng thuộc thẩm quyền của cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc bộ, ban, ngành, tỉnh theo khoản 7 Điều 84 của Luật Thi đua, khen thưởng gồm: "Chiến sĩ thi đua cơ sở", "Lao động tiên tiến", "Chiến sĩ tiên tiến", "Tập thể lao động tiên tiến", "Đơn vị tiên tiến", danh hiệu thôn, tổ dân phố văn hóa, "Gia đình văn hóa" và Giấy khen theo khoản 7 Điều 84 của Luật Thi đua, khen thưởng; d) Quy định việc công nhận mức độ hoàn thành nhiệm vụ của cá nhân, tập thể thuộc quyền quản lý theo khoản 7 Điều 84 của Luật Thi đua, khen thưởng; đ) Quy định chi tiết tổ chức và hoạt động của Hội đồng Thi đua - Khen thưởng cấp bộ, cấp tỉnh theo khoản 5 Điều 90 của Luật Thi đua, khen thưởng; e) Quy định chi tiết tổ chức và hoạt động của Hội đồng Thi đua - Khen thưởng tại cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc bộ, ban, ngành, tỉnh theo khoản 5 Điều 90 của Luật Thi đua, khen thưởng; g) Quy định chi tiết thủ tục hủy bỏ quyết định tặng danh hiệu thi đua hoặc hình thức khen thưởng, thu hồi hiện vật khen thưởng và tiền thưởng đối với các danh hiệu thi đua, hình thức khen thưởng thuộc thẩm quyền của bộ, ban, ngành, tỉnh theo khoản 9 Điều 93 của Luật Thi đua, khen thưởng; h) Quy định chi tiết thủ tục hủy bỏ quyết định tặng danh hiệu thi đua hoặc hình thức khen thưởng, thu hồi hiện vật khen thưởng và tiền thưởng đối với danh hiệu thi đua, hình thức khen thưởng thuộc thẩm quyền của cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc bộ, ban, ngành, tỉnh theo khoản 9 Điều 93 của Luật Thi đua, khen thưởng. Thủ tướng Chính phủ là Chủ tịch Hội đồng Thi đua - Khen thưởng Trung ương Hội đồng Thi đua - Khen thưởng Trung ương là cơ quan tham mưu, tư vấn cho Đảng và Nhà nước về công tác thi đua, khen thưởng, có nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định tại khoản 3 Điều 90 của Luật Thi đua, khen thưởng. Thành phần Hội đồng Thi đua - Khen thưởng Trung ương gồm: Chủ tịch Hội đồng là Thủ tướng Chính phủ; Các Phó Chủ tịch Hội đồng gồm: Phó Chủ tịch nước là Phó Chủ tịch thứ nhất, Bộ trưởng Bộ Nội vụ là Phó Chủ tịch thường trực; Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam là Phó Chủ tịch Hội đồng; Các Ủy viên Hội đồng. Chủ tịch Hội đồng Thi đua - Khen thưởng Trung ương quyết định thành phần, số lượng thành viên, nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ tịch, Phó Chủ tịch, Ủy viên Thường trực Hội đồng, Thường trực Hội đồng, các Ủy viên Hội đồng, cơ quan thường trực giúp việc cho Hội đồng; ban hành Quy chế làm việc của Hội đồng. Bộ Nội vụ là cơ quan thường trực của Hội đồng Thi đua - Khen thưởng Trung ương. Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2025. Theo https://baochinhphu.vn

Trang