Diễn đàn

Sửa Nghị định số 56/2015/NĐ-CP: Những nội dung cần phải bàn

TĐKT - Từng thời kỳ, từng giai đoạn cách mạng, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành rất nhiều chính sách khen thưởng người có công với cách mạng như Bằng Có công với nước, Huân chương Kháng chiến, Huy chương Kháng chiến… đặc biệt là chính sách đối khen thưởng đối với những phụ nữ Việt Nam có nhiều cống hiến, hi sinh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế. Chính sách khen thưởng Danh hiệu vinh dự Nhà nước "Bà mẹ Việt Nam anh hùng" đã được thực hiện từ năm 1994 thế kỷ XX cho đến nay và sẽ còn tiếp tục thực hiện ở những năm tiếp theo, thể hiện đạo lý “Uống nước nhớ nguồn” tốt đẹp của dân tộc, của Nhà nước và cộng đồng xã hội, nhằm ghi nhận, tôn vinh những bà mẹ bản thân là liệt sĩ, có chồng, con là liệt sĩ đã hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc và thực hiện nghĩa vụ quốc tế. Thực hiện Pháp lệnh Danh hiệu vinh dự Nhà nước "Bà mẹ Việt Nam anh hùng" năm 1994 và Nghị định 176-CP ngày 20 tháng 10 năm 1994, trên cơ sở đề nghị của Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch nước Lê Đức Anh đã ký quyết định tặng và truy tặng danh hiệu “Bà mẹ Việt Nam Anh hùng” đợt đầu tiên cho 19.879 bà mẹ trong cả nước, trong đó có các bà mẹ tiêu biểu: Mẹ Nguyễn Thị Thứ ở Điện Thắng, Điện Bàn, Quảng Nam có 9 con, 1 rể, 2 cháu ngoại là liệt sĩ; Mẹ Phạm Thị Ngư ở Hàm Hiệp, Hàm Thuận, Bình Thuận có 8 con là liệt sĩ, bản thân mẹ là Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân; Mẹ Trần Thị Mít ở Hải Phú, Hải Lăng, Quảng Trị có 9 con là liệt sĩ; Mẹ Nguyễn Thị Rành, ở Phước Hiệp, Củ Chi, TP Hồ Chí Minh có 8 con là liệt sĩ, bản thân mẹ là Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân; mẹ Nguyễn Thị Dương ở Triệu Thành, Triệu Phong, Quảng Trị có 8 con thì 5 con là liệt sĩ (3 người con khác là: Đại tướng Đoàn Khuê, Trung tướng Đoàn Chương và Đại tá Đoàn Thúy).  Qua các phương tiện thông tin đại chúng và qua dư luận, nhân dân và cộng đồng xã hội rất hoan nghênh chính sách này của Nhà nước, từ đó đã dấy lên phong trào thi đua xây “Nhà tình nghĩa”, nhận phụng dưỡng "Bà mẹ Việt Nam anh hùng" đối với với các bà mẹ còn sống, neo đơn… Ủy ban Thường vụ Quốc hội tiếp tục ban hành Pháp lệnh về Danh hiệu vinh dự Nhà nước "Bà mẹ Việt Nam anh hùng" năm 2013, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 56/2013/NĐ-CP ngày 22 tháng 5 năm 2013 hướng dẫn thực hiện Pháp lệnh, Bộ Nội vụ, Bộ Quốc phòng, và Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã ban hành Thông tư liên tịch số 03/2014/TTLT-BNV-BLĐTBXH-BQP ngày 10 tháng 10 năm 2014 giữa Bộ Nội vụ, Bộ Quốc phòng, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ngày 10 tháng 10 năm 2014 hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 56/2013/NĐ-CP của Chính phủ. Theo văn bản của Ban Thi đua - Khen thưởng Trung ương báo cáo Thủ tướng Chính phủ, tính đến ngày 22/2/2018,  sau 4 năm triển khai thực hiện Pháp lệnh Danh hiệu vinh dự Nhà nước "Bà mẹ Việt Nam anh hùng" năm 2013, cả nước đã có 81.687 Bà mẹ được phong tặng và truy tặng danh hiệu vinh dự Nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng” (trong đó phong tặng 11.895 Bà mẹ, truy tặng 69.792 Bà mẹ). Nhìn chung, các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đã cơ bản hoàn thành chính sách này. Tuy nhiên, qua văn bản của Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương báo cáo tình hình, kết quả thực thi chính sách, qua trao đổi với lãnh đạo các địa phương trong chỉ đạo thực hiện, cả nước còn khoảng 4.500 trường hợp chưa được làm thủ tục đề nghị. Các trường hợp này hầu hết là vướng mắc trong quy định về đối tượng, thủ tục hồ sơ dẫn đến việc xét duyệt tại các địa phương gặp nhiều khó khăn. Nhiều thân dân của các bà mẹ đang làm thủ tục đề nghị phong tặng, truy tặng danh hiệu vinh dự Nhà nước "Bà mẹ Việt Nam anh hùng" tỏ ra rất bức xúc, đã đề nghị Đoàn Đại biểu Quốc hội địa phương mình gửi câu hỏi chất vấn Chính phủ, thành viên của Chính phủ trong các phiên chất vấn tại kỳ họp Quốc hội hoặc làm đơn thư gửi trực thiếp Thủ tướng Chính phủ yêu cầu trả lời, làm rõ. Để có giải pháp khắc khục những tồn tại trên, cần phân tích những hạn chế, bất cập trong quá trình thực thi chính sách ưu đãi danh hiệu vinh dự Nhà nước "Bà mẹ Việt Nam anh hùng" trong quy định Nghị định số 56/2013/NĐ-CP ngày 22 tháng 5 năm 2013 của Chính phủ và Thông tư liên tịch số 03/2014/TTLT-BNV-BLĐTBXH-BQP ngày 10 tháng 10 năm 2014  giữa Bộ Nội vụ, Bộ Quốc phòng, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội ngày 10 tháng 10 năm 2104). Thứ nhất, việc giao Bộ Quốc phòng chủ trì, xây dựng và tham mưu Thủ tướng Chính phủ, Chính phủ ban hành Nghị định số 56/2013/NĐ-CP ngày 22 tháng 5 năm 2013 của Chính phủ hướng dẫn thi hành Pháp lệnh Danh hiệu vinh dự Nhà nước "Bà mẹ Việt Nam anh hùng" 2013 là chưa đầy đủ.  Do Bộ Quốc phòng không quản lý hồ sơ liệt sĩ, không quản lý chế độ người có công với cách mạng nói chung và "Bà mẹ Việt Nam anh hùng" nói riêng nên việc thu thập thông tin về liệt sĩ, tình hình thực hiện chế độ liệt sĩ, hoàn cảnh gia đình liệt sĩ để tham mưu Thủ tướng Chính phủ, Chính phủ ban hành Nghị định số 56/2013/NĐ-CP có nhiều điểm chưa sát với thực tiễn (Nghị định 176 NĐ-CP ngày 23 tháng 10 năm 1994 trước đây hướng dẫn thi hành Pháp lệnh Danh hiệu vinh dự Nhà nước "Bà mẹ Việt Nam anh hùng" năm 1994 do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Quốc phòng tham mưu).   Thứ hai, tại Khoản 1 Điều 2Nghị định số 56/2013/NĐ-CP ngày 22 tháng 5 năm 2013 của Chính phủ quy định về đối tượng danh hiệu vinh dự Nhà nước "Bà mẹ Việt Nam anh hùng": “Điều 2. Đối tượng được xét tặng hoặc truy tặng danh hiệu vinh dự Nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng” “1. Những bà mẹ thuộc một trong các trường hợp sau đây được xét tặng hoặc truy tặng danh hiệu vinh dự Nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng”: a) Có 2 con trở lên là liệt sĩ; b) Chỉ có 2 con mà 1 con là liệt sĩ và 1 con là thương binh suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên; c) Chỉ có 1 con mà người con đó là liệt sĩ; d) Có 1 con là liệt sĩ và có chồng hoặc bản thân là liệt sĩ; đ) Có 1 con là liệt sĩ và bản thân là thương binh suy giảm khả năng lao động từ 81 % trở lên. Người con là liệt sĩ là người đã được Thủ tướng Chính phủ tặng Bằng “Tổ quốc ghi công”, bao gồm con đẻ, con nuôi theo quy định của pháp luật. Người chồng là liệt sĩ là người đã được Thủ tướng Chính phủ tặng Bằng “Tổ quốc ghi công” mà bà mẹ là vợ của người đó. Thương binh quy định tại Điểm b, Điểm đ Khoản 1 Điều này là người đã được cấp có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận thương binh, bị suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên, bao gồm cả người còn sống và người đã từ trần. Trường hợp bà mẹ có chồng, con tham gia hàng ngũ địch nhưng bà mẹ chấp hành đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước thì vẫn được xem xét tặng hoặc truy tặng danh hiệu vinh dự Nhà nước ‘‘Bà mẹ Việt Nam anh hùng”. Trường hợp quy định tại Mục b, Khoản 1, Điều 2 Nghị định số 56/2013/NĐ-CP ngày 22 tháng 5 năm 2013 chỉ quy định người mẹ có 1 con là liệt sĩ và 1 con là thương binh trên 81% đủ tiêu chuẩn đề nghị danh hiệu vinh dự Nhà nước "Bà mẹ Việt Nam anh hùng" nhưng không quy định đối với trường hợp bà mẹ có 2 con là thương binh trên 81%. Thứ ba, qua quá trình triển khai thực tế, tại địa phương còn có rất nhiều đối tượng mà Nghị định 56/2013/NĐ-CP và Thông tư liên tịch số 03/2014/TTLT-BNV-BLĐTBXH-BQP chưa bao quát đến. Những đối tượng này cũng được thân nhân làm thủ tục đề nghị danh hiệu vinh dự Nhà nước "Bà mẹ Việt Nam anh hùng", đó là: - Bà mẹ có 1 con chồng và 1 con đẻ là liệt sĩ. - Bà mẹ là người nước ngoài lấy chồng Việt Nam hoặc là người Việt Nam có quốc tịch nước ngoài, có 2 con đẻ là liệt sĩ; - Bà mẹ có chồng là liệt sĩ nhưng không có con với người đó, lại có con duy nhất ngoài giá thú là liệt sĩ; - Bà mẹ có 4 người con trong đó 2 con đi lính Việt Nam cộng hòa, 2 con thoát ly đi cách mạng. 2 con đi tham gia cách mạng hy sinh được công nhận là liệt sĩ, được cấp Bằng Tổ quốc ghi công; - Bà mẹ có 2 chồng (chồng trước và chồng sau) là liệt sĩ; - Bà nội, bà ngoại có công nuôi dưỡng cháu là liệt sĩ khi mồ côi bố mẹ từ nhỏ; - Bác, cô, dì, thím, mợ có công nuôi dưỡng cháu là liệt sĩ khi mồ côi bố mẹ từ nhỏ. Thứ tư, tại Khoản 4, Điều 3 Thông tư liên tịch số 03/2014/TTLT-BNV-BLĐTBXH-BQP ngày 10 tháng 10 năm 2104 quy định về đối tượng đề nghị Danh hiệu vinh dự Nhà nước "Bà mẹ Việt Nam anh hùng" trong đó có mẹ kế trong khi Nghị định số 56/2013/NĐ-CP ngày 22 tháng 5 năm 2013 của Chính phủ không quy định. Mặc dù vậy, trường hợp người mẹ kế được làm thủ tục đề nghị phong tặng, truy tặng danh hiệu vinh dự Nhà nước "Bà mẹ Việt Nam anh hùng" như trong Thông tư liên tịch số 03/2014/TTLT-BNV-BLĐTBXH-BQP quy định, thì tiêu chuẩn mẹ kế lại phải nuôi 2 con chồng trở lên mới được đề nghị. Điều này đã gây bức xúc trong xã hội và nhân dân đối với những bà mẹ chỉ nuôi 1 con chồng (trường hợp liệt sĩ là con độc nhất của chồng). Thứ năm, theo phong tục tập quán của Việt Nam trước đây, việc cho, nhận con nuôi chỉ bằng sự đồng ý của bố mẹ hai bên nên không có căn cứ để chứng minh là mẹ nuôi, con nuôi. Vì vậy, bổ sung những thủ tục để công nhận bà mẹ nhận liệt sĩ là con nuôi trước đây theo quy định Luật con nuôi mới được ban hành năm 2010 là không thực hiện được, hiện tại chỉ căn cứ vào biên bản họp của dòng họ, gia đình và xác nhận của chính quyền địa phương. Căn cứ như vậy cũng không đảm bảo chính xác vì nhừng người thân trong gia đình thuộc thân nhân được ưởng quyền, lợi, chính sách của bà mẹ nếu được phong tặng, truy tặng danh hiệu vinh dự nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng”. Như vậy cần có căn cứ gì để xác nhận mà mẹ là mẹ nuôi của liệt sĩ khi lập hồ sơ đề nghị khen thưởng (Khoản 4, Điều 3 Thông tư liên tịch số 03/2014/TTLT-BNV-BLĐTBXH-BQP ngày 10 tháng 10 năm 2104). Thứ sáu, Nghị định số 56/2013/NĐ-CP ngày 22 tháng 5 năm 2013 của Chính phủ và Thông tư liên tịch số 03/2014/TTLT-BNV-BLĐTBXH-BQP ngày 10 tháng 10 năm 2104 chưa quy định đối tượng, thủ tục đối với những bà mẹ của liệt sĩ có đủ tiêu chuẩn nhưng đã định cư ở nước ngoài hoặc định cư và từ trần ở nước ngoài. Thủ tục đối với các bà mẹ từ Nam vĩ tuyến 17 từ Quảng Trị trở vào, khi có 4 người con, trong đó 2 con đi lính Việt Nam Cộng hòa, 2 con thoát ly tham gia cách mạng, 2 con tham gia cách mạng hy được công nhận là liệt sĩ, đã được cấp Bằng Tổ quốc ghi công. Thứ bảy, việc thực hiện chế độ giữa bà mẹ được phong tặng "Bà mẹ Việt Nam anh hùng" khác với bà mẹ được truy tặng  "Bà mẹ Việt Nam anh hùng". Cụ thể: “Bà mẹ được phong tặng thì được hưởng trợ cấp hàng tháng là 1.118.000 đồng, bà mẹ được truy tặng thì được hưởng trợ cấp một lần là: 28.340.000 đồng (so sánh mức hưởng trợ cấp hàng tháng với mức trợ cấp một lần khác nhau). Điều quan trọng là các bà mẹ được phong tặng danh hiệu vinh dự Nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng” tuổi đã quá cao, không còn sống được bao nhiêu lâu nữa. Thứ tám, các bà mẹ còn sống có thể được tặng 1 ngôi nhà tình nghĩa và có người chăm sóc nếu neo đơn. Trong trường hợp bà mẹ có con cháu ở cùng, phụng dưỡng, đến khi bà mẹ mất con cháu cũng không được sử dụng ngôi nhà đó mà có thể bị nhà nước thu lại sử dụng vào mục đích công cộng khác. Thứ chín, do đặc điểm vùng miền nên trong số hơn 4500 bà mẹ chưa được làm thủ tục đề nghị phong tặng danh hiệu có hơn 200 bà mẹ của tỉnh Quảng Nam, phần lớn rơi vào các xã, huyện vùng sâu, vùng xa.  Việc triển khai thực hiện ở các huyện này chưa được tiến hành đồng bộ, khó khăn. Thêm vào đó, do yếu tố lịch sử, cao trào cách mạng, tình hình tương quan lực lượng giữa ta và địch khác nhau dẫn đến những căn cứ lịch sử khi xét danh hiệu vinh dự Nhà nước "Bà mẹ Việt Nam anh hùng" cũng khác nhau. Chính sách khen thưởng người có công với cách mạng nói chung và chính sách khen thưởng danh hiệu vinh dự Nhà nước "Bà mẹ Việt Nam anh hùng" nói riêng được Đảng và Nhà nước, Chính phủ đã ban hành là một chính sách đúng đắn, hợp với lòng dân nhằm ghi nhận, tôn vinh các mà mẹ có chồng, con và bản thân hy sinh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và thực hiện nghĩa vụ quốc tế. Tuy nhiên, qua quá trình thực thi chính sách ưu đãi này đã xuất hiện những bất cập, vướng mắc về đối tượng, thủ tục, chế độ ưu đãi như đã nêu ở phần trên. Qua báo cáo của các tỉnh và tỉnh Quảng Nam, qua trao đổi với các lãnh đạo của các địa phương, qua phần phân tích ở trên, tôi xin đề xuất những giải pháp để khắc phục những hạn chế trong thực thi chính sách, giải quyết dứt điểm hơn 4500 trường hợp tồn đọng, chưa được Chủ tịch nước phong tặng, truy tặng danh hiệu vinh dự Nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng” trong đó có hơn 200 bà mẹ của tỉnh Quảng Nam. Cụ thể: Thứ nhất, bổ sung Bộ Tài chính vào Ban soạn thảo xây dựng chính sách, sửa đổi một số nội dung trong Nghị định số 56/2013/NĐ-CP ngày 22 tháng 5 năm 2013 của Chính phủ và Thông tư liên tịch số 03/2014/TTLT-BNV-BLĐTBXH-BQP ngày 10 tháng 10 năm 2014 để thống nhất về chế độ ưu đãi giữa bà mẹ được phong tặng và truy tặng. Thứ hai, bổ sung thêm những đối tượng sau vào Khoản 1 Điều 2 Nghị định số 56/2013/NĐ-CP ngày 22 tháng 5 năm 2013 của Chính phủ quy định về đối tượng Danh hiệu vinh dự Nhà nước "Bà mẹ Việt Nam anh hùng": “…- Bà mẹ là người Việt Nam có quốc tịch nước ngoài; - Bà mẹ có chồng là liệt sĩ nhưng không có con với người đó, lại có con duy nhất ngoài giá thú là liệt sĩ”. - Bà mẹ có 1 con chồng và 1 con đẻ là liệt sĩ. - Riêng đối với bà mẹ có 4 người con trong đó 2 con đi lính Việt Nam Cộng hòa, 2 con thoát ly tham gia cách mạng. Hai người con tham gia cách mạng hy được công nhận là liệt sĩ, cấp Bằng Tổ quốc ghi công. Cần phải có quy định thêm về thủ tục xét thái độ chính trị của bà mẹ (ủng hộ hay chống đối cách mạng, hai con đi lính Việt Nam Cộng hòa vì nghĩa vụ bắt buộc hay tự nguyện trở thành tay sai, tề ngụy gian ác) mà xem xét, đề nghị. Thứ ba, bãi bỏ quy định trong Khoản 4, Điều 3 Thông tư liên tịch số 03/2014/TTLT-BNV-BLĐTBXH-BQP ngày 10 tháng 10 năm 2014 về đối tượng là mẹ kế vì Nghị định số 56/2013/NĐ-CP ngày 22 tháng 5 năm 2013 của Chính phủ không quy định đối tượng mẹ kế (Thông tư trái với Nghị định). Thứ tư, mặc dù phát sinh trong thực tế triển khai nhưng không bổ sung đối tượng là bà nội, bà ngoại có công nuôi dưỡng cháu là liệt sĩ khi mồ côi bố mẹ từ nhỏ; bác, cô, dì, thím, mợ, chị ruột có công nuôi dưỡng liệt sĩ khi mồ côi bố mẹ từ nhỏ. Cần phải giải thích cho nhân dân hiểu rõ những đối tượng trên thuộc đối tượng là thân nhân của liệt sĩ được quy định tại Điều 4 Nghị định số 31/2013/NĐ-CP ngày 09 tháng 4 năm 2013 của Chính phủ thực hiện Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng 2012, không được công nhận là mẹ nuôi (Luật Con nuôi 2012). Trường hợp đủ tiêu chuẩn thì mẹ đẻ của liệt sĩ cũng đã được đề nghị truy tặng Danh hiệu vinh dự Nhà nước "Bà mẹ Việt Nam anh hùng" rồi.   Không bổ sung đối tượng “Bà mẹ là người nước ngoài lấy chồng Việt Nam” vì không đúng với chủ trương về danh hiệu vinh dự Nhà nước "Bà mẹ Việt Nam anh hùng" khen cho người mẹ dân tộc Việt Nam và trái với quy định thân nhân đang hưởng chế độ gia đình liệt sĩ tại Việt Nam.  Thứ năm, bổ sung tiêu chuẩn đề nghị Danh hiệu vinh dự Nhà nước "Bà mẹ Việt Nam anh hùng" đối với: - Bà mẹ có chồng trước là liệt sĩ, sau đó lấy chồng sau cũng là liệt sĩ; - Bà mẹ có 2 con là thương binh trên 81% Thứ sáu, bổ sung quy định về thủ tục đối với trường hợp liệt sĩ là con nuôi khi lập hồ sơ đề nghị danh hiệu vinh dự Nhà nước "Bà mẹ Việt Nam anh hùng", bao gồm: - Giấy báo tử trong đó có ghi tên bà mẹ (mẹ nuôi); - Biên bản dòng họ của liệt sĩ (hoặc biên bản dòng họ xác nhận việc nhận nuôi liệt sĩ là đúng); - Xác nhận của chính quyền địa phương về tính chính xác nội dung họp của dòng họ; - Sổ hưởng chế độ trợ cấp gia đình liệt sĩ mà bà mẹ đó đang thụ hưởng nếu đang còn sống hoặc thân nhân của bà mẹ đang thụ hưởng trường hợp bà mẹ đó đã từ trần (chứng minh là thân nhân của liệt sĩ). Thứ bảy, quy định thêm thủ tục đối với những trường hợp mẹ của liệt sĩ có đủ tiêu chuẩn nhưng đã định cư ở nước ngoài hoặc đã định cư và từ trần ở nước ngoài, cụ thể: - Khi tiếp nhận hồ sơ đề nghị danh hiệu vinh dự Nhà nước "Bà mẹ Việt Nam anh hùng" đối với trường hợp bà mẹ đó định cư ở nước ngoài, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Ban Thi đua - Khen thưởng tỉnh phải tham mưu lãnh đạo Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố có văn bản gửi Ủy ban Người Việt Nam ở nước ngoài, Bộ Ngoại giao xác nhận với 2 nội dung: - Về thái độ chính trị của bà mẹ đối với Nhà nước Việt Nam; - Về việc chấp hành pháp luật của Nhà nước sở tại (kể cả còn sống hay đã từ trần). Thứ tám, bổ sung thêm quy định về việc con cháu, thân nhân đã có công chăm sóc "Bà mẹ Việt Nam anh hùng" từ lúc còn sống đến khi từ trần được hưởng phần chế độ của bà mẹ để lại bao gồm nhà tình nghĩa, các chế độ thờ cúng hàng năm. Thứ chín, bổ sung thêm quy định về hỗ trợ về tài chính, phương tiện trong việc triển khai chính sách này đối với những vùng núi khó khăn, những nơi có yếu tố lịch sử cách mạng phức tạp (cao trào cách mạng thay đổi theo từng giai đoạn khi bị địch khủng bố gắt gao) những yếu tố liên quan đến điều kiện thực hiện chính sách, nhận thức của người dân, số lượng các "Bà mẹ Việt Nam anh hùng".... Hoặc bổ sung quy định trách nhiệm của cơ quan lao động, thương binh và xã hội, cơ quan thi đua - khen thưởng chủ động, phối hợp tiến hành các thủ tục với những trường hợp ở vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn khi làm thủ tục đề nghị khen thưởng danh hiệu vinh dự Nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng” thay cho thân nhân bà mẹ như đối với việc kê khai khen thưởng Huân chương Độc lập cho gia đình có nhiều liệt sĩ (Thông tư Liên bộ số 44/LBXH giữa Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội và Viện Huân chương). Thứ mười, bổ sung thêm một nội dung trong Nghị định số 56/2013/NĐ-CP ngày 22 tháng 5 năm 2013 của Chính phủ và Thông tư liên tịch số 03/2014/TTLT-BNV-BLĐTBXH-BQP ngày 10 tháng 10 năm 2014  ngày 10 tháng 10 năm 2104 quy định thủ tục ủy quyền người thân đang thờ cúng bà mẹ đứng ra đại diện làm thủ tục đề nghị truy tặng danh hiệu vinh dự Nhà nước "Bà mẹ Việt Nam anh hùng" là người được hưởng chế độ của bà mẹ khi có quyết định của Chủ tịch nước truy tặng. Trên đây là một số nội dung cần được nghiên cứu, sửa đổi trong quá trình thực thi chính sách khen thưởng đối với các bà mẹ được phong tặng, truy tặng danh hiệu vinh dự Nhà nước "Bà mẹ Việt Nam anh hùng" nhằm khắc phục những bất cập, tồn tại. Phùng Thị   TÀI LIỆU THAM KHẢO  - Ông Trương Quốc Bảo (2010), Vận dụng tư tưởng Hồ Chí minh về thi đua yêu nước trong xây dựng và hoàn thiện pháp luật thi đua, khen thưởng của Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội; - Luận văn thạc sĩ của ông Nguyễn Hữu Đoạt: “Hoàn thiện văn bản quy phạm pháp luật đối với công tác thi đua, khen thưởng ở Việt Nam hiện nay”. - TS. Trần Hữu Nam (2010), Chủ nhiệm đề tài khoa học độc lập cấp Nhà nước “Lịch sử thi đua, khen thưởng”;  - Ths. Trần Thị Hà, Thứ trưởng Bộ Nội vụ, Trưởng Ban thi đua – Khen thưởng Trung ương, Chủ nhiệm đề tài độc lập cấp Nhà nước: “Cơ sở lý luận và thực tiễn đổi mới thi đua, khen thưởng trong giai đoạn hiện nay". Mã số: 02/2010. - Luận văn thạc sĩ của bà Dương Thị Thanh (2007): “Đổi mới quản lý nhà nước về công tác thi đua, khen thưởng ở địa phương”;  - PGS. TS Nguyễn Thế Thắng, Chủ nhiệm đề tài: “Những vấn đề lý luận chung về thi đua, khen thưởng”, thuộc đề tài nhánh của đề tài độc lập cấp Nhà nước: “Cơ sở lý luận và thực tiễn đổi mới thi đua, khen thưởng trong giai đoạn hiện nay” năm 2012. - Đề án: “Đổi mới công tác Thi đua - Khen thưởng” do Ban Thi đua – Khen thưởng Trung ương chủ trì trình Bộ Chính trị. - Một số tài liệu tham khảo như: “Kỷ yếu về Đại hội thi đua yêu nước toàn quốc và một số địa phương trong thời kỳ đổi mới”... - Một số bài viết đăng trên Tạp chí Thi đua Khen thưởng đã đề cập các nội dung liên quan đến công tác thi đua, khen thưởng làm đề tài nghiên cứu. - Báo cáo tình hình thực hiện chính sách ưu đãi Danh hiệu vinh dự Nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng” của các tỉnh, thành phố và tỉnh Quảng Nam. - Pháp lệnh Danh hiệu vinh dự Nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng” năm 1993; - Nghị định 176-CP ngày 23 tháng 10 năm 1994 của Chính phủ hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh Danh hiệu vinh dự Nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng”. - Nghị định số 31/2013/NĐ-CP ngày 09 tháng 4 năm 2013 của Chính phủ thực hiện Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng 2012. - Luật Con nuôi năm 2013. - Luật Thừa kế 2015. - Thông tư Liên bộ số 44/TBXH –VHC/LB của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội và Viện Huân chương hướng dẫn thực hiện chủ trương của Hội đồng Nhà nước về việc tặng thưởng Huân chương Độc lập cho các gia đình có nhiều liệt sĩ hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc hướng dẫn thi hành Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng. - Trao đổi nghiệp vụ tại hội nghị triển khai chính sách khen thưởng Danh hiệu vinh dự Nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng” các địa phương và tỉnh Quảng Nam. - Bài giảng của TS Nguyễn Khắc Bình, Tổng thư ký Hội đồng Khoa học Học viện Khoa học - Xã hội về thực thi chính sách công. - Một số khái niệm của các học giả Việt Nam và nước ngoài về chính sách công và thực thi chính sách.  

Tổ chức phong trào thi đua ở cơ sở trên tinh thần kiên quyết, quyết liệt, sáng tạo hơn

TĐKT – Sáng 26/2, tại Hà Nội, Hội đồng Thi đua – Khen thưởng (TĐKT) Trung ương tổ chức Phiên họp thường kỳ nhằm đánh giá thực hiện nhiệm vụ năm 2018 và bàn phương hướng, nhiệm vụ năm 2019 của Hội đồng. Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc, Chủ tịch Hội đồng TĐKT Trung ương chủ trì Hội nghị. Cùng dự, có các đồng chí là Phó Chủ tịch, Ủy viên Hội đồng TĐKT Trung ương; lãnh đạo các vụ, đơn vị thuộc Ban TĐKT Trung ương… Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc chủ trì cuộc họp của Hội đồng TĐKT Trung ương Theo báo cáo của Hội đồng TĐKT Trung ương, năm 2018, công tác TĐKT đã có nhiều chuyển biến tích cực. Nổi bật là các hoạt động kỷ niệm 70 năm Ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi thi đua ái quốc được tổ chức trang trọng, thiết thực, tạo không khí sôi nổi, rộng khắp trong cả nước. Thể chế về thi đua, khen thưởng được tập trung xây dựng, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về thi đua, khen thưởng. Các bộ, ban, ngành, địa phương đã kịp thời ban hành các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Hội đồng TĐKT các cấp tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động. Năm qua, các phong trào thi đua trong toàn quốc đã phát triển sâu rộng trên tất cả các lĩnh vực, bám sát nhiệm vụ chính trị được giao, tập trung thực hiện tốt Nghị quyết 01/NQ-CP của Chính phủ về nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và Dự toán ngân sách Nhà nước năm 2018; nòng cốt và trọng tâm là các phong trào “Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới” giai đoạn 2016 - 2020, “Doanh nghiệp Việt Nam hội nhập và phát triển”, “Cả nước chung tay vì người nghèo - Không để ai bị bỏ lại phía sau” do Thủ tướng Chính phủ phát động. Công tác tuyên truyền, biểu dương, nhân rộng các điển hình tiên tiến có bước chuyển biến bước đầu quan trọng, là điểm sáng của năm 2018. Công tác khen thưởng được triển khai kịp thời và rất ít xảy ra sơ suất. Năm 2018, Ban Thi đua - Khen thưởng Trung ương đã thẩm định, trình Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch nước khen thưởng cho 65.702 trường hợp. Trong tổng số cá nhân được khen thưởng nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, tỷ lệ khen thưởng chuyên đề, đột xuất chiếm 1,2%; khen thưởng công nhân, nông dân, người lao động trực tiếp công tác chiếm 21% tổng số cá nhân được khen thưởng. Tại phiên họp, các thành viên Hội đồng đã đóng góp ý kiến vào việc tổ chức phát động phong trào thi đua thực hiện văn hóa công sở, cuộc thi viết về gương “người tốt, việc tốt”, các điển hình tiên tiến trong phong trào thi đua yêu nước năm 2019. Phát biểu kết luận phiên họp, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc ghi nhận công tác TĐKT đóng góp tích cực vào kết quả phát triển kinh tế - xã hội năm 2018. Tuy nhiên, Thủ tướng cho rằng, một số bộ, ngành, địa phương chưa thực sự quan tâm sâu sắc. Có nơi phong trào thi đua chưa bám sát nhiệm vụ chính trị, chuyên môn, có nơi “giao khoán” cho Ban TĐKT. Công tác nhân rộng điển hình tiên tiến ở một số nơi còn hạn chế. Khen thưởng trực tiếp người lao động được cải thiện hơn nhiều nhưng thực sự chưa tạo hiệu ứng sâu rộng. Nhấn mạnh phương châm hành động “12 chữ” năm 2019 của Chính phủ, Thủ tướng yêu cầu công tác TĐKT cần tập trung vào việc đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh để thiết thực kỷ niệm 50 năm thực hiện Di chúc của Người, coi đây là nhiệm vụ rất quan trọng. Các phong trào thi đua phải thiết thực, có tiêu chí rõ ràng, cụ thể gắn với thực hiện nhiệm vụ chính trị của cơ quan đơn vị, đi liền với đó là công tác đôn đốc kiểm tra, tổ chức phong trào thi đua ở cơ sở, tinh thần là kiên quyết, quyết liệt hơn, sáng tạo hơn, đạt kết quả cao hơn trong 2018. Bộ Nội vụ cần phối hợp với cơ quan liên quan chủ động theo dõi, nắm bắt tình hình để kịp thời có giải pháp, bảo đảm hoạt động tôn vinh danh hiệu và trao giải thưởng được chặt chẽ, không để xảy ra sai phạm, tiêu cực. Kế hoạch phát động phong trào thi đua về văn hóa công sở phải được kiểm tra, uốn nắn, đôn đốc. Tập trung chỉ đạo, tạo sự chuyển biến rõ nét trong nâng cao chất lượng công tác khen thưởng, nhất là cần kịp thời, nhanh hơn. Thủ tướng Chính phủ đề nghị các thành viên Hội đồng TĐKT Trung ương và cơ quan thường trực của Hội đồng tiếp tục chủ động triển khai các nhiệm vụ được phân công, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2019, trên tinh thần “bứt phá, hiệu quả”. Nguyệt Hà

89 mùa xuân có Đảng: Vững niềm tin và ước vọng vào tương lai

TĐKT - Trong không khí náo nức đón chào xuân Kỷ Hợi 2019, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta tự hào kỷ niệm 89 năm ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (3/2/1930 - 3/2/2019). 89 mùa xuân qua, Đảng ta vẫn luôn vững vàng chèo lái con thuyền cách mạng Việt Nam vượt qua bao phong ba bão táp, qua bao thác ghềnh để đi tới bến bờ vinh quang. Mừng Đảng, mừng xuân mới, trong mỗi người dân đất Việt lại trào dâng niềm tin, sự kỳ vọng lớn lao vào tương lai tươi sáng của dân tộc. Chương trình nghệ thuật chào mừng kỷ niệm 89 năm ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam Người lãnh đạo cách mạng Việt Nam đi tới thắng lợi Cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, trước khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, đất nước ta chìm trong đêm dài nô lệ. Nhân dân ta liên tiếp đứng lên chống ách áp bức, bóc lột của thực dân cướp nước và phong kiến tay sai. Các phong trào diễn ra mạnh mẽ, tràn đầy khí phách bất khuất và sáng ngời tinh thần yêu nước, nhưng tất cả đều không thành công, vì thiếu một đường lối đúng. Trong bối cảnh ấy, đồng chí Nguyễn Ái Quốc với nhiệt tình yêu nước cháy bỏng, đã bôn ba khắp thế giới để tìm đường cứu nước, cứu dân và Người đã tìm thấy ở chủ nghĩa Mác - Lênin con đường cứu nước, giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người. Ngày 3/2/1930, dưới sự chủ trì của Người, ba tổ chức cộng sản ở Việt Nam khi đó (Đông Dương Cộng sản Đảng, An Nam Cộng sản Đảng và Đông Dương Cộng sản Liên đoàn) đã họp Hội nghị hợp nhất thành một Đảng lấy tên là Đảng Cộng sản Việt Nam. Hội nghị đã thảo luận và thông qua "Chánh cương vắn tắt", "Sách lược vắn tắt", "Chương trình tóm tắt" và "Điều lệ vắn tắt" của Đảng do đồng chí Nguyễn Ái Quốc khởi thảo, đồng thời định kế hoạch lập Ban Chấp hành Trung ương lâm thời. Các văn kiện trên đã xác định nhiệm vụ cách mạng Việt Nam là đánh đổ đế quốc và phong kiến tay sai, lập ra Chính phủ của nhân dân, làm cho Việt Nam hoàn toàn độc lập, nhân dân được sống tự do, hạnh phúc. Với sự kiện lịch sử trọng đại này, Đảng Cộng sản Việt Nam đã chính thức được thành lập. Từ đây cách mạng nước ta có đường lối đúng đắn. Đảng Cộng sản Việt Nam thực sự trở thành người lãnh đạo và tổ chức mọi thắng lợi của cách mạng nước ta. Đây là sự phát triển tất yếu của lịch sử, là kết quả của sự phát triển phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam kết hợp với chủ nghĩa Mác - Lênin được truyền bá vào Việt Nam. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là bước ngoặt to lớn trong lịch sử cách mạng nước ta, đánh dấu một mốc son chói lọi trên con đường phát triển của dân tộc ta. 89 năm qua, được nhân dân tin yêu, ủng hộ, Đảng đã lãnh đạo cách mạng Việt Nam vượt qua mọi khó khăn, thử thách, đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, không một thế lực nào ngăn cản nổi. Nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng, đã lập nên những kỳ tích trong thế kỷ XX, mà đỉnh cao là thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945; thắng lợi của các cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc; thắng lợi của công cuộc đổi mới, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội. Từ một nước nghèo nàn, lạc hậu, chịu hậu quả nặng nề của nhiều năm chiến tranh, lại bị bao vây cấm vận, Việt Nam đã vượt lên phát triển kinh tế khá nhanh theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều thành phần kinh tế, nhiều hình thức sở hữu và tích cực, chủ động hội nhập quốc tế. Đất nước ta không những đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, phá được thế bị bao vây cấm vận, vượt qua được những tác động tiêu cực của khủng hoảng tài chính tiền tệ ở khu vực và thế giới những năm 1997 - 1998 và cuộc khủng hoảng tài chính, suy thoái kinh tế toàn cầu những năm gần đây, mà vẫn giữ được ổn định kinh tế vĩ mô. Tình hình kinh tế - xã hội năm 2018 đã đạt được nhiều kết quả quan trọng, khá toàn diện trên tất cả các lĩnh vực: Kinh tế vĩ mô ổn định, lạm phát được kiểm soát dưới 4%, tăng trưởng GDP ước đạt 7,08%, cao nhất trong 10 năm qua; 12/12 chỉ tiêu kinh tế xã hội đạt và vượt mức đề ra (9 chỉ tiêu vượt mức). Lĩnh vực văn hóa, xã hội, môi trường, ứng phó biến đổi khí hậu, cải cách hành chính, phòng chống tham nhũng, lãng phí, đạt nhiều kết quả tích cực. Quốc phòng, an ninh được tăng cường, trật tự an toàn xã hội được bảo đảm. Đối ngoại và hội nhập quốc tế được đẩy mạnh, vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng lên. Thực tiễn phong phú của cách mạng Việt Nam trong suốt 89 năm qua đã chứng minh rằng, sự lãnh đạo đúng đắn và sáng suốt của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng nước ta; đồng thời chính trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta được tôi luyện, thử thách và không ngừng trưởng thành, dày dạn kinh nghiệm để ngày càng xứng đáng với vai trò và sứ mệnh lãnh đạo cách mạng, xứng đáng với sự tin cậy của nhân dân. Ở Việt Nam không có một lực lượng chính trị nào khác, ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam, có đủ bản lĩnh, trí tuệ, kinh nghiệm, uy tín và khả năng lãnh đạo đất nước vượt qua mọi khó khăn, thử thách cam go để đưa dân tộc đến bến bờ vinh quang. Sắt son niềm tin theo Đảng Hiện nay, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta đang ra sức phấn đấu thực hiện Cương lĩnh của Đảng, Hiến pháp của Nhà nước, đẩy mạnh toàn diện và đồng bộ sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, mở cửa hội nhập quốc tế, thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Đây là một sự nghiệp cách mạng vô cùng to lớn, vĩ đại, nhưng cũng cực kỳ khó khăn, phức tạp. Bối cảnh quốc tế và tình hình trong nước bên cạnh mặt thuận lợi, thời cơ, cũng có nhiều khó khăn, thách thức đan xen. Chúng ta đứng trước nhiều vấn đề mới phải xử lý, nhiều việc hết sức phức tạp phải giải quyết. Tình hình đó đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta, hơn bao giờ hết, phải phát huy cao độ truyền thống yêu nước và cách mạng, tinh thần đoàn kết, trách nhiệm, nỗ lực phấn đấu vượt qua mọi khó khăn, thử thách, để xây dựng Tổ quốc ta ngày càng đàng hoàng hơn, tươi đẹp hơn. Cùng với các giải pháp đồng bộ, toàn diện nhằm xây dựng Đảng ta ngày càng trong sạch, vững mạnh cả về tư tưởng chính trị, tổ chức, cán bộ, công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí được triển khai quyết liệt, đồng bộ với tinh thần nói đi đôi với làm, tạo hiệu ứng tích cực, mạnh mẽ trong toàn xã hội, được nhân dân đồng tình, đánh giá cao, các tổ chức quốc tế ghi nhận. Tham nhũng đang từng bước được kiềm chế, ngăn chặn, đẩy lùi và có chiều hướng thuyên giảm, góp phần giữ vững ổn định chính trị, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân, tạo động lực mới, khí thế mới để toàn Đảng, toàn dân, toàn quân thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XII của Đảng. Năm 2019 có ý nghĩa rất quan trọng, là năm thứ tư của nhiệm kỳ 5 năm, chuẩn bị Đại hội Đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội toàn quốc lần thứ XIII của Đảng; kỷ niệm 50 năm thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh; là năm thứ 4 thực hiện phong trào thi đua “Đoàn kết, sáng tạo, thi đua xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” do Thủ tướng Chính phủ phát động tại Đại hội thi đua yêu nước toàn quốc lần thứ IX. Với niềm phấn khởi, tự hào, chúng ta tin tưởng vững chắc rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam sẽ hoàn thành xuất sắc trọng trách của mình. Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta chung sức, đồng lòng, nỗ lực phấn đấu xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, độc lập, thống nhất, dân chủ, giàu mạnh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội. Phương Thanh

Đa dạng hóa hoạt động thi đua để nâng cao chất lượng học tập theo chuyên đề cho học viên hệ 6 ở Học viện Chính trị

TĐKT - Trong những năm gần đây, để nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của sự nghiệp xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ và từng bước hiện đại, Học viện Chính trị đã tích cực, chủ động đổi mới phương pháp dạy và học, trọng tâm hướng đến việc nâng cao chất lượng học tập theo chuyên đề cho các đối tượng học viên, đặc biệt là đối với học viên hệ 6. Bởi đây là đối tượng đào tạo sau đại học nên nội dung và phương pháp phải hướng tới phát huy tính tích cực trong tự học của họ. Nhận thức được vấn đề đó, cơ quan đào tạo, phòng sau đại học, đội ngũ giảng viên, cán bộ quản lý hệ 6 ở Học viện Chính trị đã tổ chức những buổi sinh hoạt phối kết hợp với nhau giữa các lực lượng có liên quan để trao đổi, bàn bạc thống nhất về các nội dung, phương pháp của một chuyên đề, trả lời cho được câu hỏi: Chuyên đề là gì, học tập theo chuyên đề bao gồm những nội dung ra sao; cách lên lớp giảng theo chuyên đề của giảng viên, cách học theo chuyên đề của học viên…từ đó, lựa chọn những nội dung trọng tâm, trọng điểm để giảng dạy cho học viên. Đặc thù của học tập theo chuyên đề mang tính bao quát rất lớn, xuyên suốt các nội dung, phương pháp, có sự liên quan chặt chẽ với nhau giữa các môn học, chủ đề khác nhau. Vì vậy, việc giảng dạy theo chuyên đề đòi hỏi người giảng viên có sự uyên thâm về kiến thức, sự hiểu biết sâu rộng về những kiến thức xã hội để có thể khát quát hoá, trừu tượng hoá thành những luận điểm, đồng thời, có kinh nghiệm đứng lớp, có phương pháp, tác phong khoa học bao quát được lớp học, xử trí được tình huống một cách linh hoạt, sáng tạo thì mới bảo đảm được chất lượng trong quá trình lên lớp, thu hút được học viên từ đầu đến cuối. Học viên hệ 6 đa phần là những người đã trải qua cương vị, chức trách khác nhau, do vậy, việc giảng dạy theo chuyên đề của giảng viên cũng cần mang tính gợi mở, định hướng, chỉ đường cho họ về cách khai thác, hướng đi để tư duy độc lập sáng tạo trong họ được khơi dậy, phát huy, huy động một cách tối đa tâm lực, trí lực của mình vào việc thẩm thấu và lan toả những nội dung, những phương pháp đó ra bên ngoài thông qua những hoạt động thực tiễn phong phú, đa dạng như thảo luận, toạ đàm, diễn đàn, thi kiểm tra kết thúc học phần, nghiên cứu khoa học, viết báo… Chất lượng học tập theo chuyên đề của học viên hệ 6 bao gồm nhiều yếu tố tác động khác nhau, trong đó có yếu tố không thể thiếu được là phải đa dạng hoá các hoạt động thi đua để đánh thức những tiềm năng, thế mạnh của mỗi học viên, tạo ra những đột thi đua đột kích vào từng môn học, từng thời điểm khác nhau. Theo đó, những hoạt động thi đua của hệ cần đi vào những vấn đề cụ thể, thiết thực gắn với yêu cầu, nhiệm vụ của từng học viên, làm cho mỗi học viên nhận thấy tầm quan trọng của việc học tập theo chuyên đề, trở thành nhu cầu thúc đẩy mỗi học viên, nếu không tích cực học tập theo chuyên đề thì không hoàn thành được nhiệm vụ được giao. Vì vậy, phải xây dựng chỉ tiêu thi đua cho từng lớp, tăng cường công tác kiểm tra đối với việc học tập của học viên, phát động phong trào diễn thuyết theo chủ đề nhất định do học viên tự chọn dưới sự định hướng của cán bộ quản lý hệ, tổ chức những buổi diễn đàn về nâng cao chất lượng học tập theo chuyên đề cho học viên trong toàn hệ, lựa chọn những học viên có năng lực tốt đứng ra làm mẫu, làm điểm sau đó nhân rộng ra toàn hệ; tổ chức cho các lớp sinh hoạt quán triệt nhiệm vụ, ra nghị quyết lãnh đạo nhiệm vụ học tập theo chuyên để cho học viên; thường xuyên phối hợp với các lực lượng có liên quan để cập nhật, nắm bắt những thông tin mới phục vụ cho việc học tập theo chuyên đề của học viên. Cùng với đó, tổ chức hội nghị rút kinh nghiệm đánh giá về việc học tập theo chuyên đề của học viên và làm tốt công tác thi đua, khen thưởng, biểu dương, nhân rộng điển hình tiên tiến đối với những tập thể, cá nhân có nhiều cố gắng trong việc học tập, rèn luyện. Trong năm 2018, hệ đã tổ chức được 8 buổi thảo luận theo chuyên đề cho học viên ở các chuyên ngành đào tạo khác nhau: Lớp cao học chủ nghĩa xã hội khoa học, lớp cao học kinh tế chính trị; 3 diễn đàn về học tập theo chuyên đề… Những hoạt động như vậy đã góp phần rất quan trọng vào việc định hình cho học viên cách thức học tập theo chuyên đề, xây dựng cho mỗi học viên tinh thần, thái độ đúng đắn trong thời gian đào tạo tại Học viện để sau này trở thành những nhà giáo giỏi của Quân đội. Hiện nay, Học viện đang khuyến khích giảng viên đẩy mạnh việc giảng dạy cho các đối tượng theo chuyên đề để buộc học viên phải liên tục vận động những kiến thức, kinh nghiệm của bản thân vào quá trình học tập của giảng viên. Thực hiện tốt những yêu cầu, nhiệm vụ của người học viên, hoà nhập vào những hoạt động thi đua của hệ là góp phần vào việc nâng cao chất lượng học tập theo chuyên đề cho học viên của Học viện nói chung và của học viên hệ 6 nói riêng. Phạm Chí Thịnh

Tiếp tục đổi mới công tác thi đua, khen thưởng

TĐKT – Sáng 9/1, Hội đồng Thi đua – Khen thưởng (TĐKT) Trung ương tổ chức Hội nghị trực tuyến toàn quốc tổng kết công tác năm 2018, triển khai nhiệm vụ năm 2019 ngành TĐKT. Hội nghị được tổ chức tại 63 điểm cầu. Chủ trì Hội nghị, có: Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Trương Hòa Bình; Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch nước Đặng Thị Ngọc Thịnh, Phó Chủ tịch thứ nhất Hội đồng TĐKT Trung ương; Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Lê Vĩnh Tân; Phó Chủ tịch Thường trực Hội đồng TĐKT Trung ương, Thứ trưởng Bộ Nội vụ, Trưởng Ban TĐKT Trung ương Trần Thị Hà; Phó Trưởng Ban TĐKT Trung ương Phạm Huy Giang. Các đại biểu chủ trì Hội nghị Cùng dự có các Ủy viên Trung ương Đảng: Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam Bùi Văn Cường; Thứ trưởng Bộ Công an Nguyễn Văn Thành; Chủ tịch Trung ương Hội LHPN Việt Nam Nguyễn Thị Thu Hà; các đồng chí là Phó Chủ tịch Hội đồng và thành viên Hội đồng TĐKT Trung ương; đại diện lãnh đạo các bộ, ban, ngành, Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam, các đoàn thể Trung ương, tập đoàn kinh tế, tổng công ty Nhà nước; lãnh đạo Vụ (Phòng, Ban) TĐKT; Chủ tịch Hội đồng TĐKT các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương… Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Lê Vĩnh Tân phát biểu khai mạc Hội nghị Báo cáo tại Hội nghị, Phó Chủ tịch Thường trực Hội đồng TĐKT Trung ương, Thứ trưởng Bộ Nội vụ, Trưởng Ban TĐKT Trung ương Trần Thị Hà cho biết: Năm 2018, công tác TĐKT đã có nhiều chuyển biến tích cực: Các hoạt động kỷ niệm 70 năm ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi thi đua ái quốc được triển khai hiệu quả. Thể chế về thi đua, khen thưởng được tập trung xây dựng góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về thi đua, khen thưởng. Các bộ, ban, ngành, địa phương đã kịp thời ban hành các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Hội đồng TĐKT các cấp tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động. Năm qua, các phong trào thi đua trong toàn quốc đã phát triển sâu rộng trên tất cả các lĩnh vực, bám sát nhiệm vụ chính trị được giao, tập trung thực hiện tốt Nghị quyết 01/NQ-CP của Chính phủ về nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và Dự toán ngân sách Nhà nước năm 2018; nòng cốt và trọng tâm là các phong trào “Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới” giai đoạn 2016 - 2020, “Doanh nghiệp Việt Nam hội nhập và phát triển”, “Cả nước chung tay vì người nghèo - Không để ai bị bỏ lại phía sau” do Thủ tướng Chính phủ phát động. Phong trào thi đua “Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới” giai đoạn 2016 - 2020 có nhiều đổi mới, cách làm hay, nông thôn mới kiểu mẫu thực hiện hiệu quả ở nhiều địa phương và được các tầng lớp nhân dân hưởng ứng tích cực bằng những việc làm cụ thể, thiết thực. Nhiều nơi đã chủ động ban hành cơ chế hỗ trợ phù hợp với điều kiện cụ thể để đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, phát triển sản xuất, tăng thu nhập, góp phần làm thay đổi diện mạo nông thôn và nâng cao đời sống người dân. Đến nay, trên cả nước đã có 3.787 xã và 61 đơn vị cấp huyện đạt chuẩn  nông thôn mới. Phong trào thi đua “Doanh nghiệp Việt Nam hội nhập và phát triển” được triển khai tích cực; hiện nay cả nước có 121.248 doanh nghiệp thành lập mới. Phong trào “Cả nước chung tay vì người nghèo - Không để ai bị bỏ lại phía sau” được triển khai rộng khắp, tạo được sự thống nhất trong nhận thức của nhân dân, đồng thuận trong xã hội. Tỷ lệ hộ nghèo cả nước giảm còn 5,5% vào cuối năm 2018. Phó Chủ tịch Thường trực Hội đồng TĐKT Trung ương, Thứ trưởng Bộ Nội vụ, Trưởng Ban TĐKT Trung ương Trần Thị Hà báo cáo tại Hội nghị Công tác khen thưởng được quan tâm chỉ đạo, chất lượng khen thưởng được nâng lên, các cấp, các ngành đã chú trọng sử dụng các hình thức khen thưởng thuộc thẩm quyền và tăng tỷ lệ khen thưởng cho người lao động trực tiếp; khen thưởng thành tích kháng chiến được tập trung giải quyết. Năm 2018, Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch nước khen thưởng cho 55.463 trường hợp; trong đó, khen niên hạn cho lực lượng vũ trang 29.481 trường hợp (chiếm 53,15%), khen thưởng thành tích kháng chiến 8.351 trường hợp (chiếm 15,06%), khen cống hiến 2.161 trường hợp (chiếm 3,9%), khen thưởng đối ngoại 150 trường hợp (chiếm 0,27%), khen thành tích thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 15.320 trường hợp (chiếm 27,6%). Trong tổng số cá nhân được khen thưởng thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, tỷ lệ khen chuyên đề, đột xuất trên 1,2% và khen thưởng công nhân, nông dân, người lao động trực tiếp lao động trên 21%. Công tác tuyên truyền các phong trào thi đua và các điển hình tiên tiến có những chuyển biến rõ nét. Ban TĐKT Trung ương đã phối hợp giới thiệu với các cơ quan thông tấn, báo chí trung ương tuyên truyền được 112 tập thể, 306 cá nhân điển hình do các bộ, ngành, địa phương giới thiệu. Các cơ quan thông tin và truyền thông đã tăng thời lượng, xây dựng nhiều chương trình, chuyên trang, chuyên mục chất lượng giới thiệu những gương “Người tốt, việc tốt”, các điển hình tiên tiến trong các phong trào thi đua. Cơ quan báo chí, phát thanh, truyền hình các địa phương xây dựng nhiều tin bài, phim phóng sự, phát hành tập san chuyên đề về các phong trào thi đua và tuyên truyền, nhân rộng các điển hình tiên tiến. Các hoạt động tuyên truyền đã góp phần tôn vinh các điển hình tiên tiến, tạo sự lan tỏa trong xã hội, là động lực thúc đẩy các tầng lớp nhân dân tích cực tham gia các phong trào thi đua, vượt qua khó khăn, phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ. Năm 2019, với phương châm hành động “Kỷ cương, liêm chính, hành động, sáng tạo, hiệu quả, bứt phá”, toàn ngành TĐKT sẽ tập trung thực hiện tốt những nhiệm vụ trọng tâm: Tham mưu xây dựng, hoàn thiện thể chế, chính sách về TĐKT. Tiếp tục đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước góp phần thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2019, thiết thực chào mừng các ngày kỷ niệm, sự kiện chính trị lớn của đất nước. Chuẩn bị tổ chức Đại hội Thi đua, Hội nghị điển hình tiên tiến các cấp tiến tới Đại hội Thi đua yêu nước toàn quốc lần thứ X. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phát hiện, nhân điển hình tiên tiến. Nâng cao chất lượng công tác khen thưởng. Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Hội đồng TĐKT các cấp. Kiện toàn bộ máy và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ chuyên trách làm công tác TĐKT; thực hiện tốt công tác thanh tra, kiểm tra; tiếp công dân, giải quyết đơn thư, khiếu nại, tố cáo; đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính. Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Trương Hòa Bình phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị Phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Trương Hòa Bình nhiệt liệt biểu dương, đánh giá cao sự nỗ lực và những kết quả đạt được trong công tác TĐKT năm 2018. Để hoàn thành thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ năm 2019 trên tất cả các lĩnh vực, cần tiếp tục đẩy mạnh hơn nữa các phong trào thi đua yêu nước, biến phong trào trở thành động lực cách mạng, một phương thức lãnh đạo của Đảng, công cụ quản lý hữu hiệu của Nhà nước. Ngành TĐKT cần tập trung triển khai các nhiệm vụ, giải pháp: Tiếp tục quán triệt, tuyên truyền đường lối, chủ trương của Đảng, tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, chính sách, pháp luật của Nhà nước về TĐKT, coi đây là một nhiệm vụ thường xuyên. Hoàn thiện chính sách, pháp luật TĐKT, nâng cao năng lực, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước. Cùng với đó, tăng cường công tác phát hiện, bồi dưỡng, tuyên truyền về những tấm gương tập thể, cá nhân tiêu biểu trên mọi lĩnh vực, nhất là các nhân tố mới, các mô hình mới để cổ vũ, nêu gương, nhân rộng, tạo động lực phát triển và lan toả sâu rộng. Tập trung chỉ đạo, tạo sự chuyển biến rõ nét trong việc nâng cao chất lượng công tác khen thưởng. Tiếp tục kiện toàn tổ chức bộ máy và cán bộ theo hướng tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, tăng cường cải cách thủ tục hành chính. Với niềm tin mới, khí thế mới, động lực mới, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Trương Hòa Bình tin tưởng rằng toàn ngành TĐKT trong năm 2019 sẽ quyết tâm, nỗ lực cao hơn nữa, năng động, sáng tạo hơn nữa để đạt được những kết quả to lớn hơn nữa đóng góp vào thành tựu chung của đất nước. Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch nước Đặng Thị Ngọc Thịnh, Phó Chủ tịch Thứ nhất Hội đồng TĐKT Trung ương phát biểu tại Hội nghị Phát biểu tại Hội nghị, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch nước Đặng Thị Ngọc Thịnh, Phó Chủ tịch Thứ nhất Hội đồng TĐKT Trung ương tiếp thu ý kiến chỉ đạo của Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Trương Hòa Bình, đồng thời ghi nhận các ý kiến tham luận, kiến nghị xác đáng của các đại biểu tại Hội nghị. Hội đồng TĐKT Trung ương sẽ tiếp tục nghiên cứu, trực tiếp giao Ban TĐKT Trung ương tiếp thu, tham mưu, đề xuất để thực hiện, khắc phục những nhược điểm, hạn chế trong thời gian qua để công tác TĐKT trong thời gian tới được tốt hơn.   Phó Chủ tịch nước mong muốn phong trào thi đua năm 2019 phải bứt phá để đạt được những thành tích cao hơn, tạo đà để đạt và vượt các chỉ tiêu của Nghị quyết Đại hội Đảng các cấp cũng như kế hoạch 5 năm 2015 – 2020. Quan tâm sơ kết, tổng kết việc thực hiện Chỉ thị 34/CT-TW của Bộ Chính trị (Khóa XI) “Về tiếp tục đổi mới công tác TĐKT,”. Tiếp tục lấy ý kiến hoàn thiện dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung Luật TĐKT, trình quốc hội tháng 10/2019. Tập trung thực hiện 3 phong trào thi đua trọng tâm của cả nước do Thủ tướng Chính phủ đã phát động… Phương Thanh

Nguyên tắc, chuẩn mực của người làm báo trong hệ thống báo chí Liên hiệp hội Việt Nam

TĐKT - Ngày 18/12, tại Hà Nội, Liên hiệp hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam đã tổ chức Hội thảo với chủ đề “Nguyên tắc, chuẩn mực của người làm báo trong hệ thống báo chí Liên hiệp hội Việt Nam”. Phát biểu khai mạc Hội thảo, ông Phan Tùng Mậu nhấn mạnh: Liên hiệp hội Việt Nam (LHH) là một tổ chức có hệ thống báo chí lớn. Mặc dù đã có những đóng góp không nhỏ cho sự phát triển chung, nhưng báo chí LHH vẫn còn nhiều dư địa, vẫn chưa khai thác hết tiềm năng rất lớn từ đội ngũ đông đảo các trí thức, các nhà khoa học đủ mọi lĩnh vực. Bên cạnh đó, để đội ngũ các nhà báo và các cơ quan báo chí trong hệ thống báo chí LHH phát huy được vai trò to lớn của mình, cần phải quán triệt sâu sắc nguyên tắc và bổ sung, hoàn thiện chuẩn mực của người làm báo. Đây là vấn đề lớn cần được các đại biểu dự Hội thảo thông tin, trao đổi, tham luận tích cực để đi đến những nội dung tương đối rõ nét và thống nhất về vấn đề được đề cập tại; giúp cho hoạt động báo chí của chúng ta đạt những kết quả cao hơn… Phó Chủ tịch Liên hiệp hội Việt Nam Phan Tùng Mậu và PGS.TS Nguyễn Thành Lợi - Ủy viên BCH Hội Nhà báo Việt Nam, Tổng biên tập Tạp chí Người Làm báo, chủ trì Hội thảo Theo PGS.TS. Nguyễn Thành Lợi, sự thực là sinh mệnh của báo chí. Do đó, báo chí không chỉ là nơi cung cấp thông tin chính xác, bổ ích cho độc giả mà còn phải định hướng dư luận, bác bỏ những tin đồn thất thiệt. Không phải vấn đề nào cũng có thể đưa lên các phương tiện truyền thông đại chúng, mà đòi hỏi người làm báo cần có sự nhạy cảm nghề nghiệp trong chọn lựa, xử lý và có liều lượng thông tin. Báo chí hoàn toàn có thể sử dụng mạng xã hội như một công cụ tiếp cận, tìm kiếm thông tin, lan truyền bài viết tăng lượng độc giả nếu đó là những thông tin chính xác… Nhưng cùng với đó, báo chí cần thanh lọc, kiểm duyệt thông tin để đưa ra những nguồn tin chính xác, có tính định hướng – thay vì chỉ là những tin đồn kiểm duyệt trên mạng xã hội. Đưa ra giải pháp, nhà báo Nguyễn Thành Lợi cho rằng, cơ quan báo chí và quản lý báo chí cần tập trung nâng cao kiến thức và kỹ năng tác nghiệp của nhà báo trong môi trường số. Đồng thời, cần xác định rõ đối tượng bạn đọc, công chúng, cơ quan chủ quản, tôn chỉ mục đích của tờ báo; nâng cao vai trò định hướng thông tin, tích cực, chủ động phê phán, phản bác thông tin xấu độc trên mạng, góp phần khắc phục những mặt trái của mạng xã hội. Do đó, báo chí trước hết phải tôn trọng sự thật và vun đắp niềm tin cho công chúng. Rất nhiều ý kiến tham luận của các đại biểu đã được trình bày tại hội thảo xung quanh chủ đề nguyên tắc và chuẩn mực của người làm báo trong giai đoạn hiện nay; những thuận lợi, khó khăn trong việc thực hiện các nguyên tắc và chuẩn mực đó. Dù có những nhìn nhận khác nhau, nhưng các ý kiến đều thống nhất rằng: Nguyên tắc cơ bản người làm báo cần tuân theo là chấp hành nghiêm pháp luật, trong đó có Luật Báo chí; bám sát tôn chỉ, mục đích của tờ báo/tạp chí mình đang công tác; không vụ lợi cá nhân trong hoạt động báo chí… Chuẩn mực của người làm báo có thể bao gồm nhiều nội dung, nhưng những chuẩn mực cơ bản nhất vẫn là người làm báo phải có tâm, có đạo đức nghề nghiệp; có động cơ đúng đắn; đảm bảo sự trung thực; coi sự phát triển của cộng đồng và xã hội là mục đích làm báo… Hội thảo diễn ra sôi nổi, thể hiện sự thẳng thắn, tâm huyết của các đại biểu tham dự và tham gia tham luận. Qua đó, mỗi người đều thu nhận cho mình những tri thức và kinh nghiệm bổ ích; quán triệt sâu sắc hơn nguyên tắc và chuẩn mực của người làm báo để làm việc tốt hơn. Hồng Thiết

Hội thảo khoa học “Đại tướng Nguyễn Chí Thanh – Nhà lãnh đạo tài năng, đức độ”

TĐKT - Sáng 14/12, tại Hà Nội, Tạp chí Thi đua Khen thưởng phối hợp với Trường Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội tổ thức Hội thảo khoa học “Đại tướng Nguyễn Chí Thanh – Nhà lãnh đạo tài năng, đức độ”. Hội thảo là hoạt động thiết thực kỷ niệm 74 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam (22/12/1944 – 22/12/2018) và 29 năm Ngày hội Quốc phòng toàn dân (22/12/1989 – 22/12/2018), hướng tới kỷ niệm 105 năm ngày sinh Đại tướng Nguyễn Chí Thanh (1/1/1914 – 1/1/2019).  Các đại biểu dự Hội thảo Tới dự có: Thiếu tướng Nguyễn Văn Tín, Phó Cục trưởng Cục Tuyên huấn, Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam; TS. Nguyễn Viết Chức, nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, Giáo dục Thanh thiếu niên, Nhi đồng của Quốc hội; Đại tá Hoàng Văn Tòng, Phó Vụ trưởng Vụ Giáo dục Quốc phòng – An ninh (Bộ Giáo dục và Đào tạo); bà Nguyễn Thanh Hà, con gái của Đại tướng Nguyễn Chí Thanh. Cùng dự có các nhà nghiên cứu lịch sử, khoa học quân sự, các đồng chí lão thành cách mạng; lãnh đạo, cán bộ, phóng viên, cộng tác viên Tạp chí Thi đua Khen thưởng; lãnh đạo, cán bộ, giảng viên, sinh viên, hội viên Cựu chiến binh Trường Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội… PGS.,TS. Hà Đức Trụ, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội, Trưởng Ban Tổ chức phát biểu khai mạc Hội thảo Phát biểu khai mạc, PGS.,TS. Hà Đức Trụ, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội, Trưởng Ban Tổ chức Hội thảo cho biết: “Hội thảo là diễn đàn khoa học để các nhà quản lý, các nhà nghiên cứu trao đổi, thảo luận, tiếp tục khẳng định và làm rõ những đóng góp to lớn của Đại tướng Nguyễn Chí Thanh đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc, sự nghiệp xây dựng Quân đội. Tôn vinh tấm gương của Đại tướng Nguyễn Chí Thanh - một người cộng sản kiên cường, tuyệt đối trung thành, tận tụy với Đảng, với nước, với nhân dân; người học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh; một nhà lãnh đạo tài năng, có uy tín của Đảng và cách mạng Việt Nam; nhà chiến lược chính trị, quân sự song toàn; vị chỉ huy xuất sắc của quân đội; người con ưu tú của quê hương Thừa Thiên - Huế.         Với những quan điểm khách quan, khoa học, với tư duy và cách nhìn nhận mới, Hội thảo sẽ góp phần tuyên truyền, cổ vũ cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân, đặc biệt là thế hệ trẻ sống, học tập và làm việc theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh và những học trò xuất sắc của Người, trong đó, có Đại tướng Nguyễn Chí Thanh, một nhà lãnh đạo tài năng, đức độ.” Ban Tổ chức Hội thảo đã nhận được 45 tham luận của hơn 50 nhà khoa học trong nước thuộc nhiều đơn vị. Trong đó, hơn 30 tham luận đã được lựa chọn để đăng trong kỷ yếu Hội thảo. Các ý kiến tham luận đều rất tâm huyết, phát hiện được nhiều điểm mới, bài học kinh nghiệm quý báu từ cuộc đời hoạt động cách mạng và sự nghiệp của Đại tướng Nguyễn Chí Thanh. Đại tá Hoàng Văn Tòng, Phó Vụ trưởng Vụ Giáo dục Quốc phòng – An ninh phát biểu tại Hội thảo Phát biểu tại Hội thảo, Đại tá Hoàng Văn Tòng, Phó Vụ trưởng Vụ Giáo dục Quốc phòng – An ninh nhấn mạnh: Việc tăng cường giáo dục đạo đức, lối sống, bồi dưỡng lý tưởng cách mạng cho thanh thiếu niên là yêu cầu cấp thiết, góp phần hình thành lớp thanh niên vừa "hồng" vừa "chuyên", giàu lòng yêu nước, có bản lĩnh chính trị, ý thức chấp hành pháp luật, có đạo đức cách mạng và lối sống đẹp, có ước mơ, hoài bão, khát vọng đưa đất nước vươn lên đáp ứng nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đại tá Hoàng Văn Tòng nhiệt liệt biểu dương và ghi nhận sáng kiến của Trường Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội và Tạp chí Thi đua Khen thưởng đã tổ chức Hội thảo “Đại tướng Nguyễn Chí Thanh – Nhà lãnh đạo tài năng, đức độ”. Đây là hoạt động thiết thực nhằm ôn lại, khẳng định và tôn vinh những cống hiến lớn lao của đồng chí Nguyễn Chí Thanh đối với Đảng, dân tộc và Quân đội, đồng thời góp phần giáo dục truyền thống cách mạng, tư tưởng, đạo đức lối sống cho sinh viên Trường Đại học Kinh doanh và Công nghệ nói riêng và tuổi trẻ cả nước nói chung. Các tham luận tại Hội thảo đã góp phần làm sáng tỏ thêm nhiều khía cạnh mới, qua đó giúp mọi người hiểu rõ hơn thân thế, sự nghiệp, cuộc đời hoạt động cách mạng phong phú, sôi nổi và những cống hiến, đóng góp to lớn của Đại tướng Nguyễn Chí Thanh. Các đại biểu dự Hội thảo chụp ảnh lưu niệm cùng đại diện gia đình Đại tướng Nguyễn Chí Thanh Đại tướng Nguyễn Chí Thanh tên thật là Nguyễn Vịnh, sinh ngày 1/1/1914 trong một gia đình nông dân nghèo tại thôn Niêm Phò, xã Quảng Thọ, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên (nay là tỉnh Thừa Thiên – Huế). Gần một phần ba thế kỷ hoạt động cách mạng liên tục và sôi nổi, dù ở cương vị công tác nào, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh cũng luôn trung thành vô hạn với lý tưởng cách mạng, với Đảng, với nhân dân; là chiến sĩ cộng sản kiên cường, nhà hoạt động chính trị - quân sự lỗi lạc của Đảng ta; người chỉ huy mưu lược, dũng cảm, kiên quyết của lực lượng vũ trang nhân dân; một cán bộ tài - đức vẹn toàn, tiêu biểu cho ý chí “Không có gì quý hơn độc lập tự do”. Đại tướng kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân, thực hiện lý luận gắn liền với thực tiễn, lời nói đi đôi với việc làm; hết lòng thương yêu đồng bào, đồng chí. Đại tướng Nguyễn Chí Thanh có những cống hiến to lớn cho sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc và xây dựng các lực lượng vũ trang nhân dân. Cả cuộc đời mình, Đại tướng đã mang hết tài năng và nghị lực phấn đấu thực hiện thắng lợi đường lối, nhiệm vụ chính trị, quân sự, quốc phòng - an ninh của Đảng, đồng thời có nhiều đóng góp lớn trong phát triển sáng tạo nghệ thuật quân sự Việt Nam, động viên mạnh mẽ tinh thần chiến đấu của quân và dân ta, góp phần đưa sự nghiệp kháng chiến cứu nước của dân tộc ta đi đến thắng lợi hoàn toàn. Với hiểu biết sâu sắc về chủ nghĩa Mác - Lê-nin, có tư duy biện chứng và khoa học, sự mẫn cảm đặc biệt về chính trị, nhuần nhuyễn trong gắn liền lý luận với thực tiễn, đồng chí là một trong những học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã  nắm vững và vận dụng sáng tạo Chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong thực tiễn chiến tranh cách mạng và xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân. Đại tướng Nguyễn Chí Thanh đã có công lớn trong việc củng cố, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội, xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức; bồi dưỡng và phát huy bản chất cách mạng của Quân đội nhân dân Việt Nam, xây dựng nền nếp công tác Đảng, công tác chính trị, không ngừng nâng cao sức mạnh chiến đấu của lực lượng vũ trang nhân dân. Trong lãnh đạo đấu tranh vũ trang, kết hợp nhiệt tình với tri thức cách mạng, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh không chỉ là người chỉ đạo vững vàng, mưu lược, tài trí mà còn có những cống hiến lớn lao vào tổng kết thực tiễn kháng chiến, xây dựng quân đội để hoàn thiện lý luận và chỉ đạo chiến lược quân sự theo đúng đường lối và tư tưởng chiến tranh nhân dân của Đảng ta, góp phần xuất sắc vào việc phát triển lý luận, sáng tạo nghệ thuật quân sự của chiến tranh nhân dân Việt Nam. Trong cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, từ buổi ban đầu cho đến khi giữ những cương vị lãnh đạo cao trong Đảng và quân đội, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh luôn gương mẫu đi đầu, quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức các phong trào thi đua yêu nước. Đại tướng thường nói: "Cán bộ thế nào thì phong trào thế ấy", cán bộ phải lăn lộn, gắn bó với phong trào và chính đồng chí là điển hình của một cán bộ như thế. “Gió Đại Phong” trong nông nghiệp, “Cờ Ba nhất” trong quân đội - Hai phong trào thi đua lớn, nổi bật của đất nước những năm 1960 in đậm dấu ấn của nhà tổ chức thi đua tài năng - Đại tướng Nguyễn Chí Thanh. Quá trình tổ chức và lãnh đạo các phong trào thi đua theo tư tưởng Hồ Chí Minh của Đại tướng Nguyễn Chí Thanh đã để lại những kinh nghiệm quý cho những người làm công tác thi đua, khen thưởng học tập, noi theo. Đạo đức cách mạng trong sáng, cùng những cống hiến to lớn của Đại tướng Nguyễn Chí Thanh đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc và xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, mãi mãi là tài sản vô giá. Mỗi cán bộ, đảng viên và chiến sĩ của Quân đội nhân dân Việt Nam, đặc biệt là thế hệ trẻ hôm nay cần ra sức học tập, cống hiến và tiếp tục phục vụ cho sự nghiệp cách mạng của Đảng. Phương Thanh – Huy Thuyết

Trí thức trẻ Việt đóng góp vào các vấn đề nóng của đất nước

TĐKT - Diễn đàn Trí thức trẻ Việt Nam toàn cầu lần thứ nhất với chủ đề “Phát huy sức mạnh trí thức trẻ Việt Nam trong kỷ nguyên 4.0” do Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh lần đầu tiên tổ chức tại TP Đà Nẵng với sự hợp tác của nhà tài trợ vàng Vietinbank có nhiều nội dung phong phú. Tại đây, các trí thức trẻ Việt Nam trong và ngoài nước đã đóng góp nhiều ý kiến quan trọng để thúc đẩy ứng dụng công nghệ 4.0 trong phát triển đất nước. 70 trí thức trẻ đang công tác, học tập tại 20 quốc gia trong 200 trí thức trẻ tham dự Diễn đàn đã thảo luận, trình bày quan điểm, đóng góp ý kiến tại 3 nhóm nội dung: “Thúc đẩy STEM để xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao trong phát triển cách mạng công nghiệp 4.0”, “Ứng dụng công nghệ 4.0 trong bảo vệ môi trường và ứng phó biến đổi khí hậu”, “Thúc đẩy đổi mới sáng tạo trong sản xuất, kinh doanh”. Ứng dụng STEM để đào tạo nguồn nhân lực Chia sẻ về các mô hình giáo dục STEM trên thế giới và tính khả thi khi đưa vào Việt Nam, TS. Nguyễn Trọng Hồng Phúc, Đại học Cần Thơ cho biết: Hiện trên thế giới, STEM đã phát triển từ rất lâu. Các trường hàng đầu ở Mỹ, hay những quốc gia lân cận như Singapore, Hàn Quốc... đều đã và đang ứng dụng giáo dục STEM và STEAM. Từ việc phát triển giáo dục STEAM, người ta cũng đưa ra những khung đánh giá năng lực tương ứng. Câu hỏi đặt ra là vì sao giáo dục STEM trên thế giới lại thành công? Các đại biểu tham dự chủ đề “Thúc đẩy STEM để xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao trong phát triển cách mạng công nghiệp 4.0”. Theo TS. Hồng Phúc, có 2 lý do chính để các nước phát triển được giáo dục STEAM đó là: Một là sự đồng bộ của giáo dục STEM của họ (bao gồm: Chính sách, cơ sở hạ tầng giáo dục, phương pháp kiểm tra đánh giá). Thứ hai là sự thành công đến từ sự tham gia của các thành phần xã hội (gồm: Nhà trường, gia đình, xã hội). “Vậy chúng ta làm sao phát triển được nguồn nhân lực của chúng ta để có thể thúc đẩy giáo dục STEM ở Việt Nam? Đó là phải có được đội ngũ quản lý am hiểu về giáo dục STEM, sau đó là đội ngũ giảng viên, sinh viên sư phạm và giáo viên các cấp. Cùng với đó, chúng ta cũng cần có cơ sở vật chất - cơ sở dữ liệu; có các khoá huấn luyện về giáo dục STEM; chính sách giáo dục phù hợp”, TS. Hồng Phúc nói. Đề xuất với các nhà quản lý giáo dục, TS. Hồng Phúc cho rằng: Chúng ta cần phải thiết lập chính sách khuyến khích giáo dục STEM, tạo bộ khung chuẩn cho STEM Việt Nam; đối với đội ngũ giảng viên cần học tập, áp dụng STEM, tăng cường hợp tác thức đẩy nâng cao năng lực giảng dạy; đối với sinh viên sư phạm cần hiểu về giảng dạy STEM, thực hành về STEM; đối với đội ngũ giáo viên cơ sở cần được tập huấn, bồi dưỡng thường xuyên về STEM.   Bạn Nguyễn Minh Luân, Đại học Studencheskaya Ulitsa ( Nga) chia sẻ về chính sách hỗ trợ nghiên cứu khoa học và phổ cập STEAM cho người khuyết tật. Chia sẻ về chính sách hỗ trợ nghiên cứu khoa học và phổ cập STEAM cho người khuyết tật, bạn Nguyễn Minh Luân, Đại học Studencheskaya Ulitsa (Nga) nói về chính câu chuyện của bản thân mình. Đây là nguồn cảm hứng để Luân nghiên cứu vấn đề này. Một tai nạn từ khi còn nhỏ khiến Luân bị chấn thương não. Gia đình nghĩ rằng anh chỉ có thể “học tới đâu hay tới đó”, đến lớp cho bằng bạn bằng bè. Nhưng bản thân Luân chưa từng từ bỏ. Anh tham gia nhiều cuộc thi, nỗ lực học lên. Từ trải nghiệm của bản thân, anh đã phân tích nhu cầu, khả năng tiếp nhận giáo dục STEM của người khuyết tật.. “Những người khuyết tật có sự tự ti, thiếu niềm tin nhưng cũng chính họ là những người nỗ lực và kiên trì nhất với mục tiêu của mình. Việt Nam có 8 triệu người khuyết tật, chiếm 7,8% nguồn nhân lực Việt Nam, chính vì vậy, không thể không tính đến đóng góp của những đối tượng này cho nền kinh tế. Đó cũng là lý do cần phải quan tâm tới giáo dục STEM dành cho người khuyết tật ở Việt Nam”, Nguyễn Minh Luân nhấn mạnh. Chị Lê Thị Kim Anh trình bày tham luận chủ đề “Nữ giới và STEM”. Chị Kim Anh lý giải vì sao tỷ lệ nữ giới tham gia STEM rất thấp so với nam giới, bàn về các biện pháp cải thiện. Theo Kim Anh, biện pháp nhằm cải thiện tỷ lệ nữ giới tham gia STEM là: Phổ cập vấn đề; truyền thông về những hình mẫu, nhà khoa học là nữ tại Việt Nam và trên thế giới; tạo mạng lưới kết nối. Bảo vệ môi trường với công nghệ 4.0 Trình bày tham luận về "Tác động của biến đổi khí hậu lên sức khỏe tại Việt Nam", TS. Trần Trọng Đăng và ThS. Trương Văn Đạt đến từ Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh cho rằng: “Biến đổi khí hậu (BĐKH) là một hiện tượng toàn cầu. Nhưng tác động của nó khác nhau tùy từng địa phương...” Để minh chứng cho điều nay, TS. Trần Trọng Đăng cho biết: Hiện sốt xuất huyết đang là vấn đề của toàn cầu, cứ sau 10 năm số mắc sốt xuất huyết trên thế giới lại tăng gấp đôi; gần 4 tỷ người sống trong vùng nguy cơ, số mắc ghi nhận ở 128 nước. Năm 2015, tại Trung Quốc, Malaysia, Campuchia, Đài loan, Ấn Độ, sốt xuất huyết cũng đang gia tăng sau nhiều năm không có dịch. Tại Việt Nam, năm 2017, cả nước ghi nhận 148.200 trường hợp mắc trong đó có 30 trường hợp tử vong. Ngoài ra, phát thải khí nhà kính ngày càng tăng là nguyên nhân chủ yếu của xu thế ấm lên toàn cầu, tầng ozon bị phá hủy dẫn đến sự tăng cường độ bức xạ tử ngoại trên mặt đất. Điều này đã gây bệnh ung thư da và các bệnh về mắt.... TS. Trần Trọng Đăng kiến nghị một số biện pháp để giảm thiểu dịch sốt xuất huyết đó là: Xây dựng hệ thống quốc gia về cảnh báo hiện tượng thời tiết cực đoan (Heat-Health Warning) và hệ thống giám sát, cảnh báo dịch bệnh truyền nhiễm, ứng phó với BĐKH; quy hoạch đô thị cần chú ý tới tính thích nghi và giảm thiểu tác động BĐKH (ví dụ: Quy hoạch mảng xanh, phương tiện giao thông công cộng...); tăng cường mạng lưới liên kết 3 nhà: Nhà sử dụng + Nhà chính sách + Nhà nghiên cứu... Diễn đàn về “Thúc đẩy STEM để xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao trong phát triển cách mạng công nghiệp 4.0” thu hút rất nhiều tham luận của các nhà khoa học tâm huyết về vấn đề phát triển giáo dục hiện đại cho đất nước đáng để tham khảo. Những ý kiến đề xuất của các nhà khoa học sẽ được Ban tổ chức Diễn đàn Trí thức trẻ Việt Nam toàn cầu là Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh tổng hợp, đề xuất với Chính phủ để có những chính sách phù hợp, thúc đẩy phát triển giáo dục Việt Nam. Hưng Vũ

Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác thi đua, khen thưởng và phong trào thi đua Quyết thắng ở Trường Sĩ quan Lục quân 2 hiện nay

TĐKT - Quán triệt sâu sắc quan điểm, tư tưởng của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh về thi đua ái quốc, những năm qua, công tác thi đua, khen thưởng và phong trào thi đua Quyết thắng của Trường Sĩ quan Lục quân 2 đã được cấp ủy, chính trị viên, người chỉ huy các cấp quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo sâu sát, bảo đảm cho phong trào phát triển toàn diện cả bề rộng và chiều sâu; tập trung đột phá vào thực hiện tốt nhiệm vụ trung tâm, khắc phục khâu yếu, mặt yếu. Cùng với việc đẩy mạnh học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, thực hiện Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ”, thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (Khóa XI), lồng ghép các phong trào thi đua, cuộc vận động của các ngành, phong trào thi đua Quyết thắng đã trực tiếp góp phần xây dựng Nhà trường vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức. Chất lượng giáo dục - đào tạo ngày càng được nâng lên. Công tác nghiên cứu khoa học luôn được chú trọng, hoạt động ngày càng thiết thực, hiệu quả. Xây dựng nền nếp chính quy có nhiều tiến bộ. Đời sống vật chất, tinh thần được cải thiện, cảnh quan môi trường luôn xanh, sạch, đẹp. Cơ sở vật chất, kỹ thuật và các điều kiện bảo đảm huấn luyện, sinh hoạt ngày càng tốt hơn. Dân chủ được phát huy, nội bộ đoàn kết, thống nhất. Các tổ chức đảng trong sạch vững mạnh. Nhà trường vững mạnh toàn diện, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà trường, Quân đội trong thời kỳ mới. Cùng với tổ chức tốt phong trào thi đua Quyết thắng, công tác khen thưởng ở Nhà trường được tiến hành kịp thời, chặt chẽ, đúng quy định, có tác dụng cổ vũ, động viên các tập thể, cá nhân không ngừng phấn đấu vươn lên, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao. Tuy nhiên, quá trình tổ chức thực hiện còn một số hạn chế, cần khắc phục, đó là ở một số cấp ủy, chính trị viên và chỉ huy các cấp chưa quan tâm đúng mức đến công tác thi đua, khen thưởng và phong trào thi đua Quyết thắng. Một số cán bộ, giảng viên, học viên, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan, chiến sĩ, công nhân viên nhận thức chưa đầy đủ, sâu sắc về công tác thi đua, khen thưởng và phong trào thi đua Quyết thắng. Chất lượng thực hiện phong trào xây dựng “Đại đội 3 nhất”, “Bộ môn 3 tốt”, “Ban 3 tốt” của một số đơn vị còn hạn chế. Chất lượng xây dựng nền nếp chính quy, chấp hành kỷ luật có nhiều chuyển biến tiến bộ, nhưng chưa vững chắc. Quản lý kỷ luật có lúc chưa chặt chẽ, lễ tiết tác phong, xưng hô chào hỏi của quân nhân chuyển biến chưa rõ nét. Kết hợp giữa công tác thi đua với khen thưởng, công tác cán bộ và chính sách có lúc chưa chặt chẽ. Từ những vấn đề trên, để không ngừng nâng cao hơn nữa chất lượng, hiệu quả công tác thi đua, khen thưởng và phong trào thi đua Quyết thắng ở Trường Sĩ quan Lục quân 2 hiện nay, cần thực hiện tốt một số giải pháp chủ yếu sau: Một là, tiếp tục quán triệt sâu sắc Lời kêu gọi thi đua ái quốc của Chủ tịch Hồ Chí Minh; các quan điểm của Đảng, Nhà nước về công tác thi đua, khen thưởng và phong trào thi đua yêu nước, cũng như các nghị quyết, chỉ thị, hướng dẫn của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị về tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh phong trào thi đua Quyết thắng; phát hiện, bồi dưỡng, tổng kết và nhân rộng điển hình tiên tiến trong Quân đội. Đặc biệt, cần quán triệt sâu sắc phương hướng, mục tiêu, yêu cầu, nhiệm vụ công tác thi đua, khen thưởng và phong trào thi đua Quyết thắng giai đoạn 2015 - 2019 mà Đại hội thi đua Quyết thắng Nhà trường đã đề ra. Tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo, nâng cao nhận thức, hành động, làm cho tinh thần thi đua yêu nước thực sự trở thành ý thức, trách nhiệm thường xuyên của mỗi cơ quan, đơn vị, mỗi cán bộ, chiến sĩ, tạo thành cao trào hành động cách mạng sôi nổi, thực sự là động lực to lớn, góp phần xây dựng Nhà trường và từng cơ quan, khoa giáo viên vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Hai là, gắn phong trào thi đua Quyết thắng với thực hiện có hiệu quả việc học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ”. Toàn trường cần tiếp tục đẩy mạnh thực hiện có hiệu quả phong trào thi đua xây dựng “Đại đội 3 nhất, Bộ môn 3 tốt , Ban 3 tốt”. Có nhiều biện pháp đột phá bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, giảng viên toàn diện, tiếp tục đổi mới nội dung, chương trình, phương pháp dạy học tích cực, tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, trang, thiết bị dạy, học theo hướng hiện đại. Các cán bộ, giảng viên cần ra sức rèn luyện bản lĩnh chính trị, tích cực học tập, nghiên cứu khoa học, không ngừng nâng cao phẩm chất, đạo đức cách mạng; năng lực, trình độ chuyên môn, hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao, xứng đáng là những tấm gương sáng cho học viên noi theo.  Đội ngũ học viên tích cực thi đua “Học giỏi, kỷ luật nghiêm”, “Đẩy khá, xóa kém”, phấn đấu trở thành người đảng viên, người cán bộ ưu tú của Đảng trong Quân đội. Nhân viên, chiến sĩ làm công tác chuyên môn, kỹ thuật và phục vụ nêu cao tinh thần trách nhiệm, khắc phục khó khăn, nâng cao chất lượng hiệu quả công việc, bảo đảm phục vụ tốt cho công tác giáo dục - đào tạo và các hoạt động của Nhà trường. Làm cho phong trào thi đua phát triển ngày càng sâu rộng, thực sự trở thành đòn bẩy thực hiện thắng lợi nhiệm vụ giáo dục - đào tạo, xây dựng chính quy, rèn luyện ý thức tổ chức kỷ luật; khắc phục khâu yếu, mặt yếu, việc khó, việc mới; xây dựng tổ chức Đảng trong sạch vững mạnh, xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện. Ba là, hình thức, biện pháp thi đua cần đa dạng, phong phú, thiết thực, hiệu quả, làm cho phong trào phát triển sôi nổi, rộng khắp, thực hiện “Người người thi đua, ngành ngành thi đua”. Trên cơ sở các nội dung thi đua chung của toàn quân và Nhà trường, các cơ quan, khoa giáo viên, đơn vị phải cụ thể hoá thành các mục tiêu phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, trong từng giai đoạn. Trước mắt, tập trung giải quyết những vấn đề trọng tâm: Xây dựng bản lĩnh chính trị, ý thức sẵn sàng chiến đấu, chủ động đối phó có hiệu quả với mọi âm mưu chống phá của các thế lực thù địch, nhất là trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng. Thực hiện tốt việc “Dạy sáng tạo, học sáng tạo, thi thực chất, đánh giá kết quả thực chất”, “Nói không với tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục”. Giữ nghiêm kỷ luật Quân đội, tạo sự chuyển biến vững chắc trong xây dựng nền nếp chính quy. Đồng thời, cần chủ động khắc phục khó khăn, tích cực cải tiến kỷ thuật; phát triển tăng gia sản xuất, làm kinh tế đạt hiệu quả cao; xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh; cơ quan, khoa giáo viên, đơn vị và Nhà trường luôn xanh, sạch, đẹp, từng bước nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho bộ đội. Tiếp tục tuyên truyền nhân rộng, giữ vững thành tích của các điển hình tiên tiến, gương người tốt, việc tốt, không ngừng phát hiện, bồi dưỡng nhân tố mới để xây dựng điển hình, tạo thành phong trào “Đua, đuổi kịp và vượt” các điển hình tiên tiến. Chống mọi biểu hiện phô trương, hình thức, che giấu khuyết điểm, bảo đảm cho phong trào thi đua phát triển sâu, rộng, thực chất, có độ vững chắc và hiệu quả. Xây dựng được nhiều tập thể, cá nhân điển hình toàn diện, điển hình từng mặt công tác, để tuyên truyền nêu gương tại Đại hội thi đua Quyết thắng toàn quân, toàn quốc. Bốn là, chủ động bám sát sự lãnh đạo của Quân ủy Trung ương và Thủ trưởng Bộ Quốc phòng, sự chỉ đạo, hướng dẫn của cơ quan Thường trực Hội đồng thi đua, khen thưởng Bộ Quốc phòng, của Tổng cục Chính trị. Nhà trường cũng như từng cơ quan, khoa giáo viên, đơn vị cần tăng cường đổi mới công tác thi đua, khen thưởng, phát huy khả năng sáng tạo của mọi tổ chức, cá nhân. Nâng cao năng lực làm tham mưu của hội đồng (tổ) thi đua khen thưởng các cấp, của đội ngũ cán bộ làm công tác thi đua, khen thưởng, tạo bước chuyển biến mới về chất trong phong trào thi đua Quyết thắng, bảo đảm tính thường xuyên, liên tục, bền vững, sâu rộng. Kiên quyết chống bệnh hình thức, chạy theo thành tích. Công tác khen thưởng bảo đảm chính xác, kịp thời, công khai, minh bạch; tập trung hướng về cơ sở, bám sát nhiệm vụ chính trị trung tâm, đơn vị, cá nhân trực tiếp làm nhiệm khó khăn, gian khổ, tính chất phức tạp. Kết hợp chặt chẽ công tác thi đua với công tác khen thưởng, công tác cán bộ và chính sách; làm cho phong trào thi đua Quyết thắng phát triển ngày càng bền vững, đi vào chiều sâu, thực chất, hiệu quả. Phan Thị Quỳnh Hoa

Kỹ năng tổ chức hoạt động thanh thiếu nhi – Hành trang cần thiết cho phát triển cộng đồng

TĐKT - Trên thế giới, Công tác xã hội (CTXH) đã có quá trình phát triển hơn 100 năm và đã tồn tại ở nhiều quốc gia. Tính đến nay, có khoảng 140 quốc gia là thành viên của Hiệp hội Cán bộ xã hội Quốc tế; khoảng 100 quốc gia tham gia Hiệp hội đào tạo công tác xã hội thế giới. CTXH hướng đến trợ giúp cho các cá nhân, gia đình, nhóm và cộng đồng, đặc biệt là các đối tượng yếu thế như người nghèo, người khuyết tật, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, người già, nạn nhân của bạo hành và tệ nạn xã hội... phát triển khả năng và sử dụng các nguồn lực riêng của họ và của cộng đồng, xã hội để giải quyết vấn đề khó khăn của mình. Tại Việt Nam, từ năm 2010, “Công tác xã hội là một hoạt động chuyên môn mới, là mô hình hoạt động chuyên môn hiệu quả hướng đến trợ giúp và nâng cao chất lượng sống của các đối tượng yếu thế.” (1). Trong những năm qua, song hành với những thành tựu to lớn về phát triển kinh tế - xã hội, cộng đồng có vấn đề xuất hiện với nhiều thách thức, rủi ro. Điều này đòi hỏi nhân viên công tác xã hội (NVCTXH) không chỉ trợ giúp các đối tượng là cá nhân, nhóm mà còn đóng vai trò như một tác viên cộng đồng, hỗ trợ các cộng đồng đóphát triển, cân bằng xã hội vững mạnh. Chính vì vậy, đối với nhân viên công tác xã hội nói chung và sinh viên đang theo học ngành này nói riêng, phát triển cộng đồng là hết sức cần thiết và việc trang bị các hành trang phù hợp để phát triển cộng đồng của sinh viên có ý nghĩa khoa học và thực tiễn to lớn. Theo ThS. Nguyễn Thị Oanh, 1995: “Phát triển cộng đồng là một tiến trình làm chuyển biến cộng đồng nghèo, thiếu tự tin thành cộng đồng tự lực, thông qua việc giáo dục gây nhận thức về tình hình, vấn đề hiện tại của họ, phát huy các khả năng và tài nguyên sẵn có, tổ chức các hoạt động tự giúp, bồi dưỡng và cung cấp tổ chức và tiến tới tự lực phát triển.” Phát triển cộng đồng (PTCĐ) là phương pháp giải quyết trong phạm vi một cộng đồng, vì vậy thâm nhập cộng đồng đó là một bước vô cùng quan trọng trong tiến trình thực hiện.Với mục đích phát triển con người, kinh tế, thực hiện an sinh xã hội cho người dân, xây dựng một cộng đồng phát triển, PTCĐ mang lại nhiều ý nghĩa cho xã hội. Mọi người đều có quyền được phát triển, được có công ăn việc làm, được phát triển, được có công ăn việc làm qua thực hiện an sinh xã hội. Cùng đó, người dân được đảm bảo cuộc sống đầy đủ, có giá trị, được tôn trọng và được bảo vệ. Không chỉ có vậy, PTCĐ còn mang lại công bằng xã hội. Ai cũng có quyền, có cơ hội như nhau để thỏa mãn nhu cầu cơ bản và giữ gìn giá trị và nhân phẩm của mình. Công bằng xã hội đòi hỏi sự phân bổ lại tài nguyên và quyền quyết định trong xã hội, thúc đẩy một cộng đồng trở nên mạnh hơn, có thể tự bảo vệ mình và bảo vệ những hoàn cảnh khác trong cộng đồng của mình. Từ đây, tinh thần cộng đồng và trách nhiệm xã hội cũng được nâng cao. Con người với tư cách là một thành tố của cộng đồng và xã hội không chỉ quan tâm đến cá nhân mình mà còn có trách nhiệm với đồng loại, cùng nhau giải quyết những nhu cầu, vấn đề chung. Thực hành PTCĐ được giảng dạy vào năm thứ ba, là môn học bắt buộc và cần thiết dành cho mỗi sinh viên ngành CTXH. Ngoài kiến thức học tập, thái độ, sinh viên cần có những kỹ năng chuyên biệt để thiết lập mối quan hệ với người dân địa phương, đặc biệt là đối tượng trẻ em và đoàn thanh niên. Tổ chức các hoạt động thiếu nhi là một trong những kỹ năng quan trọng hướng đến và thông qua những đối tượng này để giới thiệu ngành học, mục đích một cách rõ ràng, dễ chấp nhận, góp phần đẩy mạnh tác phong “tam cùng”, phát hiện ra những tiềm năng về con người. Kỹ năng tổ chức các hoạt động thiếu nhi được hiểu là khả năng vận dụng kiến thức thu nhận được trong các lĩnh vực, kết hợp với việc rèn luyện của người làm công tác thiếu nhi và của các em thiếu nhi để thực hiện một hoạt động nhằm đạt hiệu quả cao theo mục tiêu đã đề ra. Kỹ năng này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, nhằm giúp các em thỏa mãn nhu cầu vui chơi, giáo dục nhận thức và phát triển toàn diện. Đồng thời là phương tiện giáo dục và phát triển trí tuệ cho trẻ, góp phần làm phong phú vốn hiểu biết của trẻ về thế giới khách quan. Người có kỹ năng này sẽ vừa tạo một môi trường gắn kết giữa sinh viên CTXH với người dân địa phương, vừa khơi dậy một môi trường năng động, không gian giải trí lành mạnh, bổ ích cho các em thiếu nhi tại cộng đồng. Cùng đó, trang bị cho các em thiếu nhi những kiến thức cơ bản về kĩ năng sống, nâng cao khả năng tự nhận thức và cảm quan, biết sống yêu thương, đoàn kết, giúp đỡ mọi người xung quanh. Đây cũng là điều kiện thuận lợi để các em được giao lưu, trải nghiệm và học hỏi kiến thức nhằm nâng cao tính chủ động, tự tin, tích cực tham gia các hoạt động của nhà trường và xã hội. Từ những thực tiễn khách quan trên, để thu hút được sự tham gia nhiệt tình của trẻ, thiết lập được mối quan hệ tốt đẹp giữa sinh viên CTXH với các em thiếu nhi trong các hoạt đông, việc thực hiện kỹ năng này cần sự linh hoạt và chuyên nghiệp nhất định, cụ thể là phải dựa trên các nguyên tắc sau: Một là, đảm bảo định hướng chính trị - xã hội và mục tiêu giáo dục. Theo Công ước quốc tế về quyền trẻ em và Luật trẻ em, thiếu nhi là đối tượng được hưởng các quyền, trong đó có quyền được học tập, được giáo dục. Các em chưa hoàn thiện về mọi mặt như thể chất, sinh lý, tâm lý... Vì thế, các hoạt động giáo dục thường được chia nhỏ và ở mức độ đơn giản, đi từ dễ đến khó với các phương pháp linh hoạt phù hợp. Thông qua các hoạt động, nhân cách của thiếu nhi cũng được bộc lộ, từ đó ta có thể phát huy những điểm mạnh cũng như điều chỉnh những phản ứng chưa tích cực. Hoạt động giáo dục thiếu nhi là mục tiêu chung của gia đình, nhà trường, toàn xã hội, giúp các em có thể định hướng, hình thành, phát triển và hoàn thiện nhân cách, hướng đến chân, thiện, mỹ theo chuẩn mực chung của Đảng Cộng sản, Nhà nước Việt Nam. Hai là, đảm bảo sự tự nguyện tham gia, tôn trọng quyền của thiếu nhi và bình đẳng trong hoạt động. Tổ chức các hoạt động đối với thiếu nhi phải tuân thủ nguyên tắc tôn trọng, lắng nghe, không phán xét, không phân biệt đối xử giữa các em. Sinh viên CTXH không có quyền áp đặt, ép buộc các em phải tham gia những hoạt động mà các em không mong muốn; biến các em thành con người thụ động. Các em thiếu nhi được lựa chọn tự nguyện tham gia một cách thoải mái, được đối xử công bằng và có sự quan tâm như nhau. Ba là, đảm bảo đáp ứng nhu cầu với đặc điểm tâm lý lứa tuổi và khả năng của thiếu nhi. Thiếu nhi là lứa tuổi thích vui nhộn, thích được giao lưu bạn bè, khám phá cái mới. Vì vậy, tổ chức các hoạt động cho thiếu nhi (về nội dung, hình thức, phương pháp) phải phù hợp với thể chất và năng lực của các em.Chú ý các đặc điểm cá nhân khi phân công nhiệm vụ, giáo dục (giới tính, cá tính, môi trường sống,...). Quan trọng hơn, người thiết kế hoạt động cần tránh thiết kế những hoạt động khó hiểu, quá sức với thể chất và trí tuệ của các thiếu nhi, gây nên sự nhàm chán và ảnh hưởng đến sự phát triển của trẻ. Bốn là, đảm bảo tính hệ thống, liên tục trong hoạt động. Để thực hiện nguyên tắc này, sinh viên CTXH phải dựa trên nền tảng của nguyên tắc giáo dục: Giáo dục là quá trình liên tục, có tính khoa học, có hệ thống và có kế hoạch từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn, phù hợp với đặc điểm tâm lý lứa tuổi, nhận thức của đối tượng giáo dục. Quá trình hoàn thiện nhân cách là một quá trình lâu dài, không thể thực hiện trong một thời gian nhất định, phải thực hiện một cách liên tục, lặp đi lặp lại và không được ngắt quãng. Năm là, đảm bảo an toàn trong hoạt động. An toàn cho các em thiếu nhi và những đối tượng có liên quan đến hoạt động là yêu cầu quan trọng hàng đầu. Vì vậy, trước khi tổ chức một hoạt động nào đó, sinh viên CTXH cần xem xét kỹ các tình huống, rủi ro có thể xảy ra để chủ động trong việc thay đổi hoặc có biện pháp phòng, tránh hiệu quả nhất. Việc đảm bảo sự an toàn khi tổ chức hoạt động được thể hiện qua các mặt sau: + Về địa điểm: Không gian thoải mái, thoáng mát, tránh những khu vực nguy hiểm: Gần khu điện cao thế, gần cây xăng,... + Về thời gian: Lựa chọn khoảng thời gian phù hợp, tránh việc tổ chức khi trời mưa lớn, thời tiết quá nóng hoặc quá lạnh, sẽ gây ảnh hưởng đến sức khỏe và việc học tập của trẻ. + Về nội dung: Các nội dung tổ chức hoạt động không mang tính chất nhạy cảm, bạo lực, mất đoàn kết,... + Về hình thức: Chọn hình thức tổ chức hoạt động phải phù hợp về: Độ tuổi, trình độ, khả năng của đối tượng; hình thức tổ chức đa dạng, phong phú, hấp dẫn, tránh thực hiện một hình thức với nhiều hoạt động. Khi xây dựng các phương thức thực hiện kỹ năng tổ chức các hoạt động thiếu nhi, sinh viên cần lưu ý đến các phương pháp: Thiết kế các hoạt động thiếu nhi, trò chơi thiếu nhi, trại thiếu nhi, hội thi thiếu nhi, múa hát thiếu nhi,...với những ý nghĩa, quy trình tổ chức thích hợp, vừa đảm bảo về nội dung, mục đích, vừa phục vụ cho công tác phát triển cộng đồng: Đáp ứng nhu cầu, nâng cao nhận thức qua tập huấn, tuyên truyền, vận động, tạo lập mối quan hệ bền vững giữa cộng động và cộng tác viên cộng đồng. Ví dụ, với kỹ năng tổ chức hoạt động thiếu nhi được rèn luyện trong quá trình giảng dạy, đoàn sinh viên thực tập Học viện Thanh thiếu niên Việt Nam vào tháng 6 năm 2018 đã chứng minh tính ứng dụng cao của kỹ năng này trong thực tập phát triển cộng đồng. Không chỉ tự tổ chức các buổi sinh hoạt hè với các trò chơi, múa, hát... sôi động, đảm bảo sự tham gia của trẻ, có được sự đón nhận, yêu mến của người dân địa phương mà các sinh viên còn khai thác được một trong những nhu cầu, vấn đề của khu vực trong sự thiếu hụt về công tác đoàn, đội. Từ đó, xây dựng kế hoạch can thiệp, trợ giúp cộng đồng qua các buổi tập huấn, tuyên truyền cho các đoàn viên, cán bộ đoàn trẻ về kiến thức, kỹ năng cần thiết, những phương thức tổ chức hoạt động thiếu nhi ở địa phương. Để sinh viên ngành CTXH trở thành một nhân viên công tác xã hội giỏi về nghiệp vụ, chuyên về kỹ năng, đặc biệt là kỹ năng tổ chức các hoạt động thiếu nhi, chúng tôi xin đưa ra một số biện pháp như sau: Đối với những trường đào tạo ngành CTXH cần lồng ghép, kết hợp kiến thức về kỹ năng tổ chức các hoạt động thiếu nhi vào các môn học và các giờ thực hành ngoài giờ. Bên cạnh đó, việc thực hiện xây dựng và đưa kiến thức về kỹ năng tổ chức các hoạt động thiếu nhi thành môn học chính thức cũng là cách để trang bị kỹ năng cho sinh viên. Ngoài ra, các nơi đào tạo có thể tổ chức các buổi tập huấn, gặp mặt các chuyên gia hoặc những cá nhân có kinh nghiệm tổ chức các hoạt động thiếu nhi để chia sẻ kiến thức và kinh nghiệm trong việc tổ chức hoạt động, giúp giải đáp thắc mắc và tạo điều kiện thực hành kỹ năng một cách cụ thể hơn. Còn về phía sinh viên hay các cá nhân theo chuyên ngành CTXH, để trang bị đầy đủ kỹ năng tổ chức các hoạt động thiếu nhi thì cũng cần phải chủ động tham gia vào các hoạt động ngoại khoá do trường, cơ quan tổ chức. Cùng đó, tích cực trau dồi kiến thức và thực hành kỹ năng cho bản thân. Không những vậy, mỗi cá nhân cũng nên tham gia vào các công trình nghiên cứu khoa học về những vấn đề có liên quan đến kỹ năng tổ chức hoạt động cho thiếu nhi: Đánh giá nhu cầu của thiếu nhi, mức độ hiểu biết về kỹ năng... Từ đó, ta có thể lên kế hoạch, lựa chọn những hoạt động cho thiếu nhi sao cho phù hợp nhất và đảm bảo các nguyên tắc khi tổ chức. Để trang bị những kỹ năng này, việc sinh viên tham gia vào các câu lạc bộ cũng là cách để họ học hỏi thêm nhiều kỹ năng tổ chức các hoạt động cho thiếu nhi và đây cũng là nơi để họ được thể hiện bản thân, rèn luyện kỹ năng một cách tốt nhất. Tổ chức các hoạt động thiếu nhi không còn xa lạ với công tác đoàn, đội nhưng lại là một kỹ năng vô cùng cần thiết trong phát triển cộng đồng của ngành công tác xã hội tại Việt Nam. Đây là một kỹ năng giúp sinh viên hay nhân viên công tác xã hội có được sự tự tin trên tinh thần chủ động, sáng tạo, thể hiện sức trẻ trong học tập và công việc của mình. Chúng tôi tin rằng sự có mặt của kỹ năng này trong hành trang phát triển cộng đồng, cùng chuyên môn nghiệp vụ, ngành công tác xã hội ở Việt Nam sẽ ngày một phổ biến hơn, tạo bức đệm vững chắc cho một đất nước phát triển toàn diện. Lâm Ngọc Ánh - Nguyễn Quang Duy - Trần Thị Thùy Linh (1) - Đề án 32 của Thủ tướng Chính phủ, Phát triển nghề CTXH giai đoạn 2010 - 2020

Trang