Diễn đàn

Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Công việc hàng ngày chính là nền tảng của thi đua”

TĐKT - Sau hơn một năm phát động và triển khai thực hiện phong trào thi đua yêu nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận thấy “nhiều nơi nhân dân, mà trước hết là cán bộ, chưa hiểu thật rõ ràng ý nghĩa của phong trào thi đua ái quốc” (1). Điều này dẫn đến một số khuyết điểm như cho rằng thi đua chỉ mang tính nhất thời, không có sự phối hợp, trao đổi lẫn nhau, phong trào thi đua xa rời với mục đích ban đầu đặt ra. Do vậy, tháng 8 năm 1949, trong “Lời kêu gọi thi đua chuẩn bị tổng phản công”, Người đã nhấn mạnh: “Công việc hàng ngày chính là nền tảng của thi đua” (2). Nông dân xã Ái Quốc, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương báo cáo kết quả sản xuất với Chủ tịch Hồ Chí Minh (31/5/1957) (Ảnh tư liệu) Đây là vấn đề mang tính lý luận và thực tiễn sâu sắc trong tư tưởng về thi đua yêu nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ở đây, Người đã nói tới “nền tảng của thi đua” - một vấn đề rất cơ bản thuộc về cơ sở, gốc rễ của thi đua. Chính trên nền tảng này mà mọi cuộc thi đua sẽ được nảy sinh và diễn ra liên tục. Nền tảng của thi đua Người chỉ ra ở đây là “công việc hàng ngày”. Mỗi người trong xã hội đều có một vai trò, vị trí, công việc nhất định. Mỗi công việc đều có những đóng góp nhất định cho xã hội, đều là những hoạt động lao động sản xuất của con người và giúp cho xã hội loài người tồn tại và phát triển. Do vậy, dù là công việc đơn giản hay phức tạp, mang tầm quan trọng ít hay nhiều, người thực hiện nó đều phải có ý thức, có trách nhiệm để hoàn thành công việc với hiệu quả cao nhất có thể. Mỗi người, khi hoàn thành tốt những “công việc hàng ngày” của mình thì đã là những người tham gia tích cực và có hiệu quả trong phong trào thi đua. Chủ tịch Hồ Chí Minh khuyến khích, động viên mọi tầng lớp nhân dân có tinh thần lao động, có ý thức trách nhiệm đối với công việc hàng ngày của mình. Người khen mỗi người dân làm việc tích cực, hăng hái thi đua trong khả năng, phạm vi mà mình chịu trách nhiệm: Các cụ phụ lão thi đua đốc thúc con cháu hăng hái tham gia mọi công việc. Các cháu nhi đồng thi đua học hành và giúp việc người lớn. Đồng bào công thương thi đua mở mang doanh nghiệp. Đồng bào công nông thi đua sản xuất. Đồng bào trí thức và chuyên môn thi đua sáng tác và phát minh. Nhân viên Chính phủ thi đua tận tụy làm việc phụng sự nhân dân. Bộ đội và dân quân thi đua giết cho nhiều giặc, đoạt cho nhiều súng”. Ngay cả đối với các cháu thiếu nhi, Người cũng dạy: “Tuổi nhỏ làm việc nhỏ, tùy theo sức của mình”.(3) Với Người, “bất cứ nấu bếp, quét nhà hay làm chủ tịch đều phải lao động cả, làm gì ích nước lợi dân là vẻ vang.”(4) và đã thi đua là phải làm cho tốt. Người chỉ bảo cụ thể, nêu những ví dụ hết sức điển hình để mọi người biết và áp dụng trong quá trình phấn đấu thi đua của mình: “Từ trước đến giờ ta vẫn ǎn, vẫn mặc, vẫn ở. Nay ta thi đua ǎn, mặc, ở cho sạch sẽ, cho hợp vệ sinh, cho khỏi đau ốm. Xưa nay ta vẫn làm ruộng. Nay ta thi đua làm cho đất ruộng tốt hơn, sản xuất nhiều hơn. Mọi việc đều thi đua như vậy."(5)  Như vậy, thi đua không phải là cái gì quá khó khăn, cao xa như mọi người vẫn tưởng, mà thi đua chính là mỗi người có trách nhiệm với công việc, tìm mọi cách làm tốt và vượt mức (nếu có thể) công việc hàng ngày của chính mình. Thi đua không phải chỉ tiến hành, tổ chức đối với những việc lớn như sản xuất, chiến đấu, mà cả trong những công việc đơn giản, bình thường hàng ngày cũng cần phải thi đua. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc nhở chúng ta không nên coi thường những việc nhỏ. Tuy hiệu quả của mỗi việc đem lại có thể nhỏ, nhưng nhiều công việc nhỏ hàng ngày và nhiều người đều thi đua hàng ngày, thì hiệu quả đem lại sẽ rất lớn. Đây cũng là đòn bẩy, đột phá làm cho các mặt tích cực được chú ý phát hiện, nhân lên những việc làm tốt, những cách làm hay. Qua đó, các nội dung công việc trọng tâm, trọng yếu sẽ được hoàn thành tốt hơn. Công việc hàng ngày đều cần phải thi đua, nếu được tổ chức, phát động thành phong trào, có tổng kết, rút kinh nghiệm thì tác dụng và hiệu quả đem lại sẽ rất lớn. Đó cũng chính là lý do tháng 6/1968, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ đạo việc xuất bản sách “Người tốt, việc tốt” để mỗi người đều có thể học tập và làm theo. Theo Bác, người tốt, việc tốt ở đâu cũng có, ngành, giới nào, địa phương nào, lứa tuổi nào cũng có. Những việc làm của họ, dù nhỏ, nhưng giống như những giọt nước nhỏ thấm vào lòng đất, chảy về một hướng thành suối, thành sông và hợp thành biển cả... Những việc làm đó cần được khen thưởng đúng mức để động viên, khuyến khích mọi người hăng hái làm những việc ích nước, lợi nhà. Trong thời đại hiện nay, vị trí, mục tiêu, tầm quan trọng của việc thi đua vẫn không thay đổi, nhưng cách thức thi đua, các biện pháp để thực hành thi đua đã có nhiều bước đổi mới để theo kịp với sự phát triển xã hội. Nhưng, dù có thay đổi thế nào thì quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về vấn đề thi đua đặc biệt là luận điểm “Công việc hàng ngày chính là nền tảng của thi đua” vẫn luôn đúng đắn và phù hợp với mọi thời đại.       Hơn 70 năm qua, Đảng, nhân dân ta luôn quán triệt và không ngừng vận dụng sáng tạo tư tưởng thi đua yêu nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh để triển khai thực hiện có hiệu quả các phong trào thi đua và công tác khen thưởng, góp phần to lớn vào công cuộc giải phóng dân tộc, bảo tồn, phục hưng và phát triển đất nước, củng cố quốc phòng, an ninh, xây dựng Đảng, chính quyền, Mặt trận và các đoàn thể ngày càng vững mạnh.  Trong các cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, trên tiền tuyến, các chiến sĩ thi đua giết giặc lập công, ở hậu phương, nhân dân thi đua tăng gia sản xuất giỏi, chống giặc đói, diệt giặc dốt, diệt giặc ngoại xâm. Thanh niên thi đua “Năm xung phong”, “Ba sẵn sàng”; phụ nữ thi đua “Ba đảm đang”, thiếu nhi thi đua “Làm nghìn việc tốt”; quân đội thi đua “Ba nhất”; giáo viên, học sinh thi đua “dạy tốt, học tốt”; công nhân thi đua sản xuất “nhanh, nhiều, tốt, rẻ”; nông dân thi đua làm thủy lợi, trồng cây, gây rừng… Trong giai đoạn hiện nay, các phong trào thi đua đã bám sát các nhiệm vụ chính trị của cả nước và của từng cơ quan, đơn vị, địa phương, gắn với thực hiện Chỉ thị 05 của Bộ Chính trị "Về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”. Với chủ đề thi đua "Đoàn kết, sáng tạo, thi đua xây dựng và bảo vệ Tổ quốc" giai đoạn 2016 - 2020, các ngành, các cấp đều hưởng ứng tích cực, bằng nhiều phong trào thi đua sôi nổi, thiết thực, có tác động lan toả rộng khắp, liên tục trên tất cả các lĩnh vực. Tiêu biểu là 4 phong trào thi đua trọng tâm, trọng điểm do Thủ tướng Chính phủ phát động: "Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới", "Doanh nghiệp Việt Nam hội nhập và phát triển", "Cả nước chung tay vì người nghèo - Không để ai bị bỏ lại phía sau", “Cán bộ, công chức, viên chức thi đua thực hiện văn hóa công sở”. Các phong trào đã được các cấp, các ngành, các địa phương nhanh chóng triển khai thực hiện, đặc biệt là được sự hưởng ứng sâu rộng trong các tầng lớp nhân dân, doanh nghiệp, doanh nhân trong và ngoài nước, đã huy động được nhiều nguồn lực xã hội phục vụ cho sự phát triển doanh nghiệp thời kỳ Công nghiệp 4.0, an sinh xã hội được bền vững, nông nghiệp, nông thôn khởi sắc, tăng trưởng góp phần phát triển kinh tế của đất nước và hội nhập quốc tế. Mỗi ngành, mỗi lĩnh vực, mỗi địa phương, đơn vị đều cụ thể hóa phong trào thi đua yêu nước thành những phong trào riêng, phù hợp với đặc điểm, tình hình, nhiệm vụ của ngành, địa phương, đơn vị mình. Trên cơ sở đó, mỗi cá nhân đặt ra những mục tiêu của bản thân, phấn đấu hoàn thành và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Mỗi người, thông qua công việc hàng ngày sẽ không ngừng hoàn thiện mình, vươn đến chân - thiện - mỹ. Cũng từ công việc hàng ngày mà lòng yêu nước được củng cố, vun trồng và phát triển. “Thi đua là yêu nước, yêu nước thì phải thi đua”. Thi đua yêu nước không phải là cái gì chung chung, trừu tượng. Đó là những công việc rất cụ thể, thiết thực. Đó chính là những công việc hàng ngày của mỗi người, và thực hiện tốt hơn, hiệu quả hơn những công việc hàng ngày đó “chính là nền tảng của thi đua”. Nguyễn Văn Long (Trường Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội) Tài liệu tham khảo: (1) Hồ Chí Minh Toàn tập, T. 5, Nxb Chính trị Quốc gia, H. 1995, tr. 658. (2) Hồ Chí Minh Toàn tập, T. 5, Nxb Chính trị Quốc gia, H. 1995, tr. 658. (3) Hồ Chí Minh Toàn tập, T. 6, Nxb Chính trị Quốc gia, H. 1995, tr. 571. (4) Hồ Chí Minh Toàn tập, T. 8, Nxb Chính trị Quốc gia, H. 1995, tr. 296. (5) Hồ Chí Minh Toàn tập, T. 5, Nxb Chính trị Quốc gia, H. 1995, tr. 658.

Khối Thi đua các cơ quan Đảng Trung ương: Sơ kết và trao đổi nghiệp vụ công tác thi đua, khen thưởng

TĐKT - Thực hiện kế hoạch công tác 6 tháng đầu năm 2019, trong hai ngày 30 và 31 tháng 5 năm 2019, tại TP Buôn Mê Thuột, tỉnh Đắk Lắk, Khối Thi đua các cơ quan Đảng Trung ương (sau đây gọi là Khối Thi đua) đã tổ chức Hội nghị sơ kết 5 năm thực hiện Chỉ thị số 34-CT/TW, ngày 07/4/2014, của Bộ Chính trị “Về tiếp tục đổi mới công tác thi đua, khen thưởng” và trao đổi nghiệp vụ công tác thi đua, khen thưởng. Tham dự hội nghị có lãnh đạo Khối Thi đua, đại diện lãnh đạo các cơ quan thành viên, đại diện lãnh đạo vụ (ban, phòng) và cán bộ làm công tác thi đua, khen thưởng của 14 cơ quan thành viên Khối Thi đua, đại diện lãnh đạo tỉnh Đắk Lắk. Tại Hội nghị, các ý kiến phát biểu của đại diện 14 cơ quan trong Khối tập trung  khẳng định: Sau 5 năm thực hiện Chỉ thị số 34-CT/TW của Bộ Chính trị, công tác thi đua, khen thưởng của Khối, cũng như của các cơ quan thành viên trong Khối đã có nhiều chuyển biến tích cực. Cụ thể, cấp ủy đảng, lãnh đạo các cơ quan trong Khối đã tập trung chỉ đạo tổ chức các phong trào thi đua, bảo đảm thiết thực, hiệu quả. Các cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu cơ quan, đơn vị trong Khối đã trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo và chịu trách nhiệm về chất lượng, hiệu quả công tác thi đua, khen thưởng; tăng cường kiểm tra, giám sát nhằm kịp thời phát hiện, ngăn ngừa tiêu cực trong công tác thi đua, khen thưởng (nếu có). Từng chi bộ, đảng viên các cơ quan trong Khối phát huy tốt vai trò tiên phong, gương mẫu và là hạt nhân trong các phong trào thi đua ở cơ quan, đơn vị mình gắn với việc “Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”. Lãnh đạo Khối Thi đua chủ trì Hội nghị. Các cơ quan báo chí là thành viên Khối Thi đua tích cực tuyên truyền đường lối, chủ trương của Ðảng, tư tưởng về thi đua yêu nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh; chính sách, pháp luật của Nhà nước về thi đua, khen thưởng, trong đó chú trọng tuyên truyền Luật Thi đua, Khen thưởng. Do vậy, nhận thức của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, người lao động của các cơ quan trong Khối về vai trò, vị trí và tầm quan trọng của công tác thi đua, khen thưởng trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và chủ động hội nhập quốc tế đã có bước chuyển biến tích cực. Tích cực tham gia tuyên truyền các phong trào thi đua yêu nước, trọng tâm là Chỉ thị số 18/CT-TTg ngày 19/5/2016 của Thủ tướng Chính phủ về việc phát động phong trào thi đua thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2016, phong trào thi đua “Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới”, “Doanh nghiệp Việt Nam hội nhập và phát triển”, “Cả nước chung tay vì người nghèo - Không để ai bị bỏ lại phía sau” và tuyên truyền, nhân rộng các điển hình tiên tiến. Thực hiện nhiệm vụ được Bộ Chính trị phân công trong Chỉ thị số 34-CT/TW, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh đã đưa và chỉ đạo các trường chính trị cấp tỉnh đưa nội dung đường lối, chủ trương của Ðảng và tư tưởng Hồ Chí Minh về thi đua, khen thưởng vào chương trình giảng dạy, bồi dưỡng, đào tạo cán bộ. Khối Thi đua, các cơ quan thành viên của Khối đã nỗ lực đổi mới nội dung, hình thức, phương pháp tổ chức các phong trào thi đua của cơ quan, đơn vị mình theo hướng: Tập trung về cơ sở, bám sát nhiệm vụ chính trị, nhiệm vụ trọng tâm, cấp bách của cơ quan, đơn vị để tổ chức phát động với các hình thức thi đua phong phú, hấp dẫn, có chủ đề, tên gọi dễ nhớ, có tiêu chí cụ thể, nội dung thiết thực, triển khai có hiệu quả. Hằng năm, lãnh đạo Khối thực hiện nghiêm túc việc kiểm tra, sơ kết, tổng kết các phong trào thi đua, lựa chọn các tập thể, cá nhân có thành tích tiêu biểu để biểu dương, tôn vinh, khen thưởng kịp thời. Lãnh đạo Khối, lãnh đạo các cơ quan thành viên Khối xem việc phát hiện, bồi dưỡng, tổng kết và nhân điển hình tiên tiến là nhiệm vụ trọng tâm trong đổi mới phương pháp tổ chức chỉ đạo các phong trào thi đua. Các cơ quan báo chí của Khối đã quan tâm dành thời lượng, mở chuyên mục để tuyên truyền các điển hình tiên tiến trong Khối, cũng như trong cả nước, tạo sự lan tỏa. Công tác khen thưởng của Khối và của các cơ quan thành viên được đổi mới, bảo đảm chính xác, kịp thời, công khai, minh bạch; coi trọng việc phát hiện, lựa chọn các tập thể và cá nhân có thành tích xuất sắc để khen thưởng. Ðề cao vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu trong việc phát hiện những điển hình tiên tiến để khen thưởng và đề nghị cấp có thẩm quyền khen thưởng. Chú trọng khen thưởng tập thể nhỏ, người lao động trực tiếp. Khối Thi đua, các thành viên trong Khối đã đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, tích cực ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác thi đua, khen thưởng. Bộ máy làm công tác thi đua, khen thưởng của Khối, cũng như các cơ quan thành viên trong Khối được kiện toàn một bước, được tổ chức gọn nhẹ, hiệu quả. Đội ngũ cán bộ làm công tác thi đua, khen thưởng là những công chức, viên chức có năng lực, trình độ, cơ bản đáp ứng yêu cầu công tác thi đua, khen thưởng. Hội đồng Thi đua - Khen thưởng của các cơ quan trong Khối thường xuyên được bổ sung, kiện toàn theo đúng quy định của Luật Thi đua, Khen thưởng. Đại diện lãnh đạo Khối Thi đua tặng quà cho các cựu thanh niên xung phong tại xã Ea Kly. Bên cạnh những kết quả tích cực trên đây, thì thực tế triển khai thực hiện Chỉ thị số 34-CT/TW trong Khối những năm qua cho thấy, công tác thi đua, khen thưởng của Khối, cũng như của các cơ quan thành viên trong Khối còn một số hạn chế: Phong trào thi đua phát triển chưa đồng đều, liên tục, có nơi, có lúc còn hình thức. Còn trường hợp khen thưởng chưa kịp thời; khen thưởng cho công chức, viên chức không giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý, người lao động trực tiếp còn ít. Công tác phát hiện, bồi dưỡng, tổng kết và nhân rộng điển hình tiên tiến hiệu quả chưa cao; biện pháp tuyên truyền thiếu đồng bộ... dẫn đến hạn chế động lực phấn đấu của tập thể và cá nhân. Hội nghị nhất trí giao cho Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh - đơn vị Khối trưởng hoàn thiện báo cáo, tổng hợp, chắt lọc tất cả các ý kiến đóng góp của các đại biểu để gửi Ban Thi đua - Khen thưởng Trung ương tổng hợp, trình Bộ Chính trị xem xét, ban hành Kết luận về việc tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 34-CT/TW. Sau Hội nghị sơ kết 5 năm thực hiện Chỉ thị số 34-CT/TW, Khối đã tiến hành trao đổi nghiệp vụ công tác thi đua, khen thưởng; nghe chuyên gia trình bày chuyên đề “Một số giải pháp đổi mới công tác thi đua, khen thưởng trong tình hình mới”; kiểm điểm, sơ bộ đánh giá lại các công việc, các hoạt động mà Khối đã hoàn thành trong những tháng đầu năm 2019. Đôn đốc, nhắc nhở các cơ quan thành viên được phân công chủ trì các công việc, hoạt động tiếp theo của Khối khẩn trương ban hành kế hoạch chi tiết để triển khai thực hiện. Đồng thời, hưởng ứng việc Thủ tướng Chính phủ phát động phong trào thi đua “Cán bộ, công chức, viên chức thi đua thực hiện văn hóa công sở”, Khối nhất trí bổ sung vào kế hoạch công tác 6 tháng cuối năm 2019 nội dung: Khối sẽ tổ chức cuộc thi bằng hình thức sân khấu hóa về chủ đề “Cán bộ, công chức, viên chức các cơ quan Đảng Trung ương thi đua thực hiện văn hóa công sở”. Nhân dịp này, Khối Thi đua triển khai chương trình an sinh xã hội, về thăm xã nông thôn mới Ea Kly, huyện Krông Pắk, tỉnh Đắk Lắk. Tại đây lãnh đạo Khối Thi đua đã tặng 10 suất học bổng cho học sinh nghèo vượt khó; 10 phần quà cho các cựu thanh niên xung phong của xã, mỗi suất trị giá 1.000.000 đồng; tặng Quỹ Khuyến học của xã 5.000.000 đồng. Vũ Hòa

Hội thảo khoa học “Tổ chức đào tạo theo tín chỉ - Nhận thức và hành động”

TĐKT - Sáng 7/6, tại Trường Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội, Khoa Kinh tế tổ chức Chương trình Hội thảo khoa học “Tổ chức đào tạo theo tín chỉ – Nhận thức và hành động”. Toàn cảnh Hội thảo Phương pháp đào tạo theo hệ thống tín chỉ (gọi tắt là Hệ thống tín chỉ) là một phương thức đào tạo tiên tiến trong nền giáo dục của nhiều quốc gia và trên thế giới. Nó còn được gọi là học chế tín chỉ để phân biệt với các phương pháp đào tạo ra đời trước nó như học chế niên chế, học chế học phần. Trên thế giới, phương pháp này được áp dụng ở cả giáo dục phổ thông và giáo dục đại học. Phương thức đào tạo theo tín chỉ lấy người học làm trung tâm trong quá trình dạy và học, phát huy được tính chủ động, sáng tạo của người học. Trong phương thức đào tạo theo tín chỉ, việc tự học, tự nghiên cứu của sinh viên được coi trọng, được tính vào nội dung và thời lượng của chương trình. Phương thức đào tạo theo tín chỉ có độ mềm dẻo và linh hoạt về môn học, thời gian học, sinh viên được cấp bằng khi đã tích lũy được đầy đủ số lượng tín chỉ do trường đại học quy định; do vậy họ có thể hoàn thành những điều kiện để được cấp bằng tùy theo khả năng và nguồn lực (thời lực, tài lực, sức khỏe...) của mình. GS.TS Vũ Văn Hóa – Phó Hiệu trưởng nhà trường phát biểu tại hội thảo.  Ảnh: Huy Thuyết (TTTT) Phát biểu tại Hội thảo, GS.TS Vũ Văn Hóa, Phó Hiệu trưởng nhà trường đã đưa ra đánh giá tổng quát về phương pháp đào tạo theo hệ thống tín chỉ: “Theo tôi được biết, tín chỉ là 1 phương thức quản lý người học bằng công nghệ từ các nước Âu, Mỹ cách đây 40 năm và du nhập vào Việt Nam được 20 năm trở lại đây, tuy nhiên chưa được quan tâm lắm. Có thể nói đây là một hình thức học tập đạt hiệu quả cao và theo kịp các nước trên thế giới. Tôi rất hoan nghênh Khoa Kinh tế đã có một sáng kiến vô cùng thuyết phục này. Chúng tôi đã chuẩn bị tất cả mọi mặt để chào đón hệ thống tín chỉ đến với Trường Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội...” TS Nguyễn Thị Thu Hà, nguyên chuyên viên cao cấp Bộ Giáo dục và Đào tạo phát biểu tại hội thảo. Ảnh: Huy Thuyết (TTTT) TS Nguyễn Thị Thu Hà, nguyên chuyên viên cao cấp Bộ Giáo dục và Đào tạo (GDĐT) cũng đưa ra tổng quan về đào tạo theo hệ thống tín chỉ: “...Ở Việt Nam nghị quyết số 14/2005/NQ-CP ngày 2/11/2005 của Chính phủ về Đổi mới cơ bản và toàn diện GDĐH Việt Nam giai đoạn 2006 - 2020 đã nêu rõ: “ Xây dựng và thực hiện lộ trình chuyển sang chế độ đào tạo theo hệ thống tín chỉ, tạo điều kiện thuận lợi để người học tích lũy kiến thức, chuyển đổi ngành nghề, liên thông, chuyển tiếp tới các cấp học tiếp theo ở trong nước và nước ngoài”. Theo chủ trương của Bộ GDĐT, năm 2011 là hạn cuối cùng để các trường liên quan phải chuyển đổi sang đào tạo tín chỉ. Tuy nhiên, qua thời gian thực hiện thí điểm ở một số trường đại học trên cả nước, có không ít những vấn đề đặt ra. Vì vậy, sau khi tổng kết rút kinh nghiệm khi thực hiện Quy chế 43 thì Bộ GDĐT ban hành Quy chế số 57/2012/TT-BGDĐT ngày 27/12/2012 sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy chế số 43 và có văn bản Hợp nhất số 17/VBHN-BGDĐT ngày 15/4/2014 hợp nhất 2 Quy chế 43 và 57...” GS.TS Tô Xuân Dân – Phó Chủ nhiệm Khoa Kinh tế đã nêu ra vai trò của giảng viên trong phương pháp đào tạo theo hệ thống tín chỉ: “...Trong phương pháp đào tạo theo hệ thống tín chỉ, sinh viên được lấy là trung tâm của quá trình đào tạo thì giảng viên là lực lượng quyết định toàn bộ quá trình tổ chức và triển khai thành công phương pháp đào tạo này. Giảng viên cần thay đổi quan niệm về đào tạo, dẫn đến thay đổi về phương pháp dạy học. Ngoài ra giảng viên cần phải chuẩn bị đầy đủ về nghiệp vụ sư phạm phù hợp với tinh thần của nền sư phạm tích cực, phải thay đổi định kỳ giáo trình và đầu tư nhiều thời gian để tự nghiên cứu sinh viên...”                                                                                                    Thu Hồng

Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong phát triển nền nông nghiệp bền vững

TĐKT – Sáng 23/5, tại Hà Nội, Học viện Nông nghiệp Việt Nam tổ chức Hội thảo khoa học “Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong phát triển nền nông nghiệp bền vững”. Hội thảo khoa học “Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong phát triển nền nông nghiệp bền vững” Phát biểu khai mạc Hội thảo, GS.TS. Phạm Văn Cường, Phó Giám đốc Học viện Nông nghiệp Việt Nam cho biết: Học viện Nông nghiệp Việt Nam luôn coi nghiên cứu khoa học là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu. Lãnh đạo Học viện luôn quan tâm, sâu sát và có những động viên kịp thời với hoạt động nghiên cứu khoa học của các khoa, các nhóm nghiên cứu mạnh. Hội thảo là hoạt động thiết thực nằm trong chuỗi chương trình kỷ niệm 60 năm ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh về thăm Học viện Nông nghiệp Việt Nam (24/5/1959 – 24/5/2019). Hội thảo được tổ chức với mục đích nghiên cứu để tiếp tục thừa nhận và khẳng định những giá trị to lớn trong di sản tư tưởng Hồ Chí Minh về nông nghiệp và quan trọng hơn là hướng tới vận dụng và phát triển tư tưởng của Người trong bối cảnh đẩy mạnh tái cơ cấu ngành nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam hiện nay. Tại Hội thảo, các nhà khoa học đến từ các tổ chức, viện nghiên cứu của các trường đại học, cao đẳng đã tập trung ý kiến thảo luận về các khía cạnh: Nghiên cứu quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về phát triển nền nông nghiệp; nghiên cứu chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về phát triển nông nghiệp bền vững; nghiên cứu thực trạng và giải pháp phát triển nền nông nghiệp bền vững ở Việt Nam… Tham luận tại Hội thảo, TS. Bùi Thanh Tuấn, Cục khoa học, Chiến lược và Lịch sử Công an, Bộ Công an khẳng định, tư tưởng Chủ tịch Hồ Chí Minh về phát triển nông nghiệp là hệ thống những quan điểm, lý luận toàn diện và sâu sắc được rút ra từ thực tiễn cách mạng; từ sự kế thừa và phát triển những kinh nghiệm, truyền thống đặc sắc của dân tộc và trí tuệ của thời đại nhằm xây dựng và phát triển nông nghiệp Việt Nam từ sản xuất manh mún, lạc hậu tiến dần lên nền nông nghiệp hiện đại, bền vững; có khả năng cải thiện và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân lao động. Tư tưởng của Người về phát triển nông nghiệp trở thành kim chỉ nam cho hành động, đã và đang được Đảng ta quán triệt, vận dụng sáng tạo vào thực tiễn xây dựng, phát triển nền nông nghiệp ở Việt Nam. Người coi phát triển nông nghiệp là nhân tố đầu tiên, là cội nguồn giải quyết mọi vấn đề xã hội. Người từng nói “Vì nền kinh tế của ta lấy canh nông làm gốc. Nông dân ta giàu thì nước ta giàu. Nông nghiệp ta thịnh thì nước ta thịnh”. Người đặc biệt coi trọng phát triển nông nghiệp một cách toàn diện, để không ngừng đáp ứng được nhu cầu cái ăn, cái mặc và cải thiện đời sống người nông dân và để xây dựng một nền nông nghiệp phát triển bền vững. Theo TS. Bùi Thanh Tuấn, phát triển bền vững nông nghiệp Việt Nam theo tư tưởng của Người cần thực hiện đồng bộ, hiệu quả các giải pháp xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại và cải thiện đời sống nông dân; đồng thời giải quyết vấn đề dư thừa lao động hay thời điểm nông nhàn trong sản xuất nông nghiệp, tạo điều kiện cho người dân cải thiện, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần…. Theo TS. Lê Thị Lý, Trường Đại học Kinh tế kỹ thuật Công nghiệp, để nước ta trở thành nước có nền nông nghiệp phát triển bền vững, cần quan tâm đến nhiều vấn đề, trong đó, người nông dân Việt Nam phải thay đổi thói quen và tập quán sản xuất cũ manh mún và đơn lẻ, tự nguyện và cần gia nhập các chuỗi sản xuất theo tiêu chuẩn xác định để được Nhà nước bảo vệ trong cạnh tranh với các sản phẩm cùng loại của các quốc gia khác. Người nông dân cũng cần được đào tạo về kiến thức nông nghiệp, kỹ năng lao động… để tạo ra những sản phẩm nông nghiệp sạch và an toàn cho sức khỏe con người, bảo vệ môi trường trong mọi khâu của quá trình sản xuất. … Tại Hội thảo, các đại biểu cũng trao đổi, bàn về nội dung chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp tại Việt Nam hiện nay; việc sử dụng đất phục vụ phát triển nông nghiệp bền vững tại huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định…. Ông Ma Quang Trung, nguyên Cục trưởng Cục Kinh tế hợp tác và phát triển nông thôn, người chủ trì Hội thảo đánh giá: Các ý kiến, tham luận tại Hội thảo sẽ giúp Học viện Nông nghiệp Việt Nam nói riêng và nền nông nghiệp nói chung rút ra được các kết luận quan trọng về vai trò của các tác nhân xã hội, bên cạnh các tác nhân kinh tế đối với sự phát triển nông nghiệp và nông thôn Việt Nam. Mai Thảo  

Hội thảo khoa học “Vai trò của truyền thông trong việc quảng bá các điển hình khởi nghiệp, hỗ trợ khởi nghiệp”

TĐKT - Sáng 21/5, tại Hà Nội, Ban Khoa giáo Đài truyền hình Việt Nam phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ, Công ty cổ phần Truyền thông ALO tổ chức Hội thảo khoa học “Vai trò của truyền thông trong việc quảng bá các điển hình khởi nghiệp, hỗ trợ khởi nghiệp”, trong đó nhấn mạnh đến vai trò của hệ thống truyền thông gồm truyền hình kết hợp cùng hệ thống mạng xã hội. Tại Hội thảo, các đại biểu đã tập trung phân tích, đánh giá vai trò của truyền thông (truyền hình, báo điện tử, mạng xã hội) trong việc quảng bá các điển hình khởi nghiệp, hỗ trợ khởi nghiệp. Hội thảo khoa học “Vai trò của tuyền thông trong việc quảng bá các điển hình khởi nghiệp, hỗ trợ khởi nghiệp” Ông Trương Công Tú, Trưởng phòng Khoa học xã hội - VTV2 nhấn mạnh, truyền hình có vai trò tiên phong trong công tác truyền thông cho khởi nghiệp. Tuy nhiên, những năm gần đây, truyền hình đang gặp nhiều khó khăn trong việc cạnh tranh với mạng xã hội. Tuy nhiên, truyền hình với tư cách là cơ quan ngôn luận nên nguồn tin đáng tin cậy do được kiểm định chặt chẽ, kể cả những thông tin quảng cáo. Trong khi đó, mạng xã hội thì nguồn tin không được kiểm định nên có nhiều thông tin sai sự thật. Để nâng cao vai trò của truyền hình trong việc quảng bá các điển hình khởi nghiệp, hỗ trợ khởi nghiệp, theo ông Trương Công Tú, các kênh truyền hình cần chú trọng hơn nữa trong việc kiểm định thông tin để tránh sai sót. Bên cạnh đó, truyền hình cần tập trung truyền thông kiến thức khởi nghiệp để doanh nghiệp khởi nghiệp nắm được những kiến thức về khởi nghiệp, định giá đúng được giá trị của doanh nghiệp. Ngoài ra, truyền hình cần tận dụng mạng xã hội để nâng cao hiệu quả truyền thông, trong đó truyền hình đóng vai trò trung tâm, xây dựng hệ sinh thái xoay quanh mạng xã hội và internet. Bà Nguyễn Thị Ngọc Huyền, CEO của MED Link - top 3 cuộc thi khởi nghiệp tại Ngày hội khởi nghiệp đổi mới sáng Techfest 2018, cho rằng truyền thông có vai trò rất quan trọng trong việc hỗ trợ quảng bá sản phẩm, thu hút các nhà đầu tư cho doanh nghiệp khởi nghiệp. “Nhờ sự hỗ trợ của các cơ quan truyền thông, chưa đầy 1 năm thành lập, MED Link đã nhận được 600 nghìn USD tài trợ của các nhà đầu tư. Khi chúng tôi hỏi các nhà đầu tư biết đến MED Link thông qua kênh nào thì họ cho biết là thông qua các kênh truyền hình, báo điện tử”, bà Nguyễn Thị Ngọc Huyền chia sẻ. Mong muốn nhận được sự hỗ trợ truyền thông cho cộng đồng khởi nghiệp từ các cơ quan truyền thông, bà Huyền cho rằng, có rất nhiều doanh nghiệp khởi nghiệp có sản phẩm tốt nhưng chưa tham gia cuộc thi nào nên chưa được biết đến rộng rãi. Vì vậy, doanh nghiệp khởi nghiệp rất cần tới các cơ quan truyền thông để đưa sản phẩm của họ tới công chúng, từ đó thu hút được nhiều nhà đầu tư. Thục Anh

Xây dựng đội ngũ cán bộ trẻ “vừa hồng, vừa chuyên” như lời Bác dặn

TĐKT - Kỷ niệm 129 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (1890 - 2019), 50 năm thực hiện Di chúc của Người (1969 - 2019), chiều 18/5, tại Hà Nội, Ban Tuyên giáo Trung ương phối hợp với Trung ương Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh và Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh tổ chức Hội thảo chuyên đề "Xây dựng đội ngũ cán bộ trẻ “vừa hồng, vừa chuyên” và việc rèn luyện lề lối, tác phong cán bộ Đoàn theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”. Hội thảo nằm trong khuôn khổ chương trình, gồm 3 phiên chuyên đề: Phiên chuyên đề 1 với chủ đề: “Giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống văn hóa cho thế hệ trẻ theo Di chúc Chủ tịch Hồ Chí Minh” diễn ra tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh. Phiên chuyên đề 2 với chủ đề: “Phong trào hành động cách mạng - môi trường thực tiễn sinh động để đào tạo, bồi dưỡng thanh niên theo Di chúc Chủ tịch Hồ Chí Minh” diễn ra tại Trung tâm Bồi dưỡng Chính trị quận Hoàn Kiếm, Hà Nội. Phiên chuyên đề 3 với chủ đề: “Xây dựng đội ngũ cán bộ trẻ “vừa hồng, vừa chuyên” và việc rèn luyện lề lối, tác phong cán bộ Đoàn theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” diễn ra tại trụ sở Bộ Công An, số 47 Phạm Văn Đồng, Hà Nội. Quang cảnh Hội thảo Phát biểu khai mạc Hội thảo, đồng chí Bùi Quang Huy, Bí thư BCH Trung ương Đoàn, Chủ tịch Hội Sinh viên Việt Nam cho biết: Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn dành những tình cảm yêu thương, ân cần, chăm lo, quan tâm sâu sắc đến thế hệ trẻ, đến thanh niên, những chủ nhân tương lai của đất nước. Cho đến tận lúc đi xa, trong Di chúc, ngay sau khi nói về Đảng, Người nói về đoàn viên, thanh niên. Người ghi nhận đoàn viên, thanh niên ta nói chung là tốt, mọi việc đều hăng hái xung phong, không ngại khó khăn, có chí tiến thủ. Người yêu thương, căn dặn, nhắc nhở thanh niên phải trở thành những người “vừa hồng, vừa chuyên”, kế thừa sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội. Những lời dạy ân cần và tấm gương đạo đức, phong cách của Người là nguồn cổ vũ tinh thần to lớn, là định hướng quan trọng, thôi thúc lớp lớp thế hệ trẻ Việt Nam không ngừng học tập, rèn luyện. 50 năm qua, khắc sâu lời dạy của Bác Hồ kính yêu, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh luôn phấn đấu không ngừng để xứng đáng với niềm tin yêu và sự kỳ vọng của Người; luôn xác định nhiệm vụ quan trọng và xuyên suốt là giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống văn hóa cho thanh thiếu nhi; thực hiện tốt chức năng trường học xã hội chủ nghĩa để thanh niên Việt Nam rèn luyện, cống hiến và trưởng thành. Chủ tịch Hội Sinh viên Việt Nam nhấn mạnh, kỷ niệm 50 năm thực hiện Di chúc của Người là dịp quan trọng để mỗi đoàn viên, thanh niên, đặc biệt là đội ngũ cán bộ Đoàn thanh niên các cấp chúng ta một lần nữa tìm về bên Bác, qua cuộc đời, sự nghiệp của Bác, qua những lời dạy của Người để lại được tiếp thêm sức mạnh, ý chí, nghị lực, vững vàng hơn trong lao động, học tập, sản xuất, chiến đấu…  "Hội thảo như lời nhắc nhở đối với mỗi cán bộ Đoàn hôm nay và mai sau học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, thực hiện những lời dạy trong Di chúc thiêng liêng của Người, từ đó khẳng định mạnh mẽ niềm tin của thanh niên Việt Nam hôm nay vào con đường cách mạng mà Đảng, Bác Hồ, nhân dân ta và các thế hệ thanh niên đi trước đã chọn; thể hiện trách nhiệm của thế hệ trẻ trong tiếp nối truyền thống yêu nước, thắp sáng lý tưởng cách mạng, tiếp tục đẩy mạnh phong trào hành động cách mạng trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn hiện nay” – đồng chí Bùi Quang Huy khẳng định. Hội thảo đã tập trung trao đổi, làm rõ một số vấn đề: Những giải pháp đẩy mạnh công tác đào tạo bồi dưỡng, xây dựng đội ngũ cán bộ trẻ đủ phẩm chất, năng lực, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước; việc sửa đổi lề lối làm việc, rèn luyện tác phong cán bộ trẻ sáng tạo, trách nhiệm, tiên phong, gương mẫu, sâu sát cơ sở theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; cán bộ trẻ học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh gắn với phát huy dân chủ, chăm lo và bảo vệ quyền lợi chính đáng của thanh thiếu nhi; học tập và làm theo Bác gắn với xây dựng tổ chức Đoàn vững mạnh, mở rộng mặt trận đoàn kết, tập hợp thanh niên; gắn với việc xây dựng giá trị hình mẫu thanh niên Việt Nam hiện nay và các chương trình, hoạt động, đề án, kết luận đã được Trung ương Đoàn ban hành trong thời gian vừa qua. Hưng Vũ

Chiến thắng Điện Biên Phủ - Chiến thắng hào hùng của chủ nghĩa yêu nước và anh hùng cách mạng

TĐKT – Những thắng lợi của chiến dịch Việt Bắc thu đông 1947, chiến dịch biên giới 1950, chiến cuộc đông xuân 1953 – 1954 mà đỉnh cao là chiến thắng Điện Biên Phủ đã đánh dấu cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp hoàn toàn thắng lợi, chấm dứt 9 năm kháng chiến chống Pháp trường kỳ và miền Bắc được hòa bình để tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội. Thắng lợi đó không chỉ là thắng lợi của tinh thần quật cường, quả cảm của dân tộc Việt Nam mà đó là thắng lợi của chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong thời đại Hồ Chí Minh. Cờ Quyết thắng của Quân đội nhân dân Việt Nam tung bay trên nóc hầm De Castries tại cứ điểm Điện Biên Phủ Cách đây 70 năm, ngày 11/6/1948, khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp bước vào giai đoạn quyết liệt, tại bản Là Nọn, xã Phú Đình, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra Lời kêu gọi thi đua ái quốc nhằm huy động sức người, sức của cho sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc. Người nhấn mạnh: “Bổn phận của người Việt Nam, bất kỳ sĩ, nông, công, thương, binh, bất kỳ làm việc gì, đều cần phải thi đua nhau... Mỗi người dân Việt Nam, bất kỳ già trẻ, trai gái, bất kỳ giàu nghèo, lớn nhỏ, đều cần phải trở nên một chiến sĩ đấu tranh trên mặt trận, quân sự, kinh tế, chính trị, văn hoá." Thực hiện Lời kêu gọi của Người, các phong trào thi đua ái quốc được phát động và lan rộng khắp các vùng miền, cuốn hút, cổ vũ, động viên đồng bào và chiến sĩ cả nước thi đua hăng say lao động, sản xuất, thực hành tiết kiệm, chống giặc đói; thi đua học tập, xoá nạn mù chữ, chống giặc dốt và dũng cảm ngoan cường trong chiến đấu diệt giặc ngoại xâm… Với ý chí "Thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ", toàn thể nhân dân Việt Nam đã nhất tề hưởng ứng Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh, tiến hành cuộc kháng chiến trường kỳ, gian khổ với niềm tin tất thắng. Thực hiện đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, dựa vào sức mình là chính, quân dân ta đã lần lượt đánh bại các chiến lược quân sự của thực dân Pháp. Sau thắng lợi của chiến dịch Việt Bắc thu đông 1947, chiến dịch biên giới 1950, đầu tháng 12 năm 1953, Bộ Chính trị quyết định mở chiến dịch Điện Biên Phủ và thông qua phương án tác chiến của Tổng Quân ủy. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh, đây là một chiến dịch lịch sử có ý nghĩa quân sự, chính trị, ngoại giao rất quan trọng và dặn dò Đại tướng Võ Nguyên Giáp trước khi Đại tướng ra mặt trận: Phải đánh thắng, chắc thắng mới đánh, không chắc thắng không đánh. Từ đầu năm 1954, hưởng ứng lời phát động thi đua của Chính phủ “Tất cả vì tiền tuyến, tất cả để chiến thắng thực dân pháp xâm lược…”, cả nước đều hướng ra mặt trận, cán bộ, nhân dân các khu, các tỉnh đã xốc lên chạy đua với giặc, chạy đua với thời gian, mưa lũ nhằm đảm bảo tốt nhất nhu cầu chiến đấu của bộ đội. Nhân dân các vùng tự do cũng như vùng tạm chiếm đã hăng hái, tự nguyện cung cấp sức người, sức của cho tiền tuyến. Nhân dân tích cực đóng góp, ủng hộ để tiếp tế cho bộ đội. Cùng với đó là phong trào thi đua “tăng chuyến, tăng tốc” được phát động rầm rộ trên các tuyến đường. Với khí thế đó, hậu phương đã dốc sức người, sức của và tinh thần phục vụ cho chiến dịch Điện Biên Phủ. Kết quả, hàng chục nghìn tấn vũ khí đạn dược, 27.000 tấn gạo, hơn 1.800 tấn thịt đã được chuyển ra mặt trận. Riêng đồng bào các dân tộc ở Tây Bắc đã đóng góp được 7.310 tấn gạo, 389 tấn thịt và 31.818 dân công với 1.296.075 ngày công. Trên khắp các chiến trường, từ Bắc tới Nam, cả ở các vùng địch còn tạm chiếm, quân và dân ta đã liên tục tiến công, hợp đồng tác chiến với Điện Biên Phủ, không cho địch tập trung binh lực tiếp viện, giải cứu cho Điện Biên Phủ. Trên chiến trường Điện Biên Phủ, Bộ chỉ huy chiến dịch, Đảng ủy Mặt trận, đứng đầu là Đại tướng Võ Nguyên Giáp, khi thực hiện sự chỉ đạo chiến lược và phương châm đánh địch đúng đắn của Bộ Chính trị, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Tổng quân ủy, đã sáng suốt quyết định thay đổi phương châm tác chiến từ “Đánh nhanh, giải quyết nhanh” chuyển sang “Đánh chắc, tiến chắc” vào ngay trước giờ chiến dịch mở màn. Sau 56 ngày đêm chiến đấu anh dũng, chịu đựng nhiều gian khổ, hy sinh, quân ta đã tiêu diệt và làm chủ hoàn toàn tập đoàn cứ điểm mạnh nhất của quân Pháp ở Đông Dương, loại khỏi vòng chiến đấu hơn 16 nghìn quân địch. Trải qua 9 năm trường kỳ kháng chiến đầy hy sinh, gian khổ, chiến thắng Điện Biên Phủ đã giáng đòn quyết định, đập tan ý chí xâm lược của các thế lực thực dân hiếu chiến, buộc Chính phủ Pháp phải ký Hiệp định Giơnevơ, chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình, cam kết tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, đồng thời phải công nhận độc lập của Lào, Campuchia, rút quân khỏi 3 nước Đông Dương. Miền Bắc nước ta được hoàn toàn giải phóng, mở ra thời kỳ cách mạng mới, xây dựng miền Bắc trong hòa bình, quá độ lên chủ nghĩa xã hội, làm hậu phương lớn, vững chắc cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp mà đỉnh cao là chiến thắng Điện Biên Phủ là chiến thắng của lòng yêu nước nồng nàn, ý chí bất khuất, kiên cường của dân tộc Việt Nam được hun đúc qua hàng nghìn năm lịch sử; là chiến thắng của đường lối cách mạng đúng đắn của Đảng ta, độc lập dân tộc gắn liền với Chủ nghĩa xã hội; của đường lối kháng chiến trường kỳ, toàn dân, toàn diện, biết đánh và biết thắng, phát huy sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc, dựa vào sức mình là chính, đồng thời tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ của bạn bè quốc tế, kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại. Chiến thắng Điện Biên Phủ làm sáng ngời chân lý: Một nước nhỏ, kinh tế chậm phát triển, nếu có một Đảng Mác xít chân chính lãnh đạo, có đường lối chính trị, quân sự đúng đắn, phát huy được sức mạnh toàn dân tộc, được nhân dân thế giới đồng tình ủng hộ, thì nhất định đánh bại mọi cuộc chiến tranh xâm lược của kẻ thù, dù kẻ thù đó mạnh hơn nhiều lần. Thời gian đã lùi xa, nhưng chiến thắng Điện Biên Phủ lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu mãi mãi là một mốc son chói lọi trong lịch sử và niềm tự hào của dân tộc Việt Nam, là sức mạnh tinh thần, nguồn cổ vũ, động viên to lớn, đồng thời để lại nhiều bài học quý giá đối với toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hôm nay và mai sau. Phương Thanh

Sức mạnh của chiến tranh nhân dân trong đại thắng mùa xuân năm 1975

TĐKT - Trong những ngày tháng 4 lịch sử, đâu đâu trên cả nước cũng thấy sự trang hoàng, lộng lẫy của cờ hoa rợp trời, của không khí vui tươi ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Sức sống trường tồn của chân lý “Không có gì quý hơn độc lập tự do” đã trở thành biểu tượng sáng ngời của chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam, của sự hội tụ và tỏa sáng bản lĩnh, ý chí và sức mạnh con người Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh. Đại thắng mùa xuân năm 1975 đã phát huy cao độ sức mạnh của chiến tranh nhân dân Việt Nam, góp phần đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta đến thắng lợi cuối cùng, thực hiện trọn vẹn lời căn dặn thiêng liêng của Bác Hồ kính yêu: “Vì độc lập, tự do, đánh cho Mỹ cút, đánh cho Nguỵ nhào, Bắc - Nam sum họp, xuân nào vui hơn”. Nhân dân chào đón quân giải phóng tiến vào Sài Gòn Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975 với đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử đã khẳng định sự lãnh đạo đúng đắn, sáng tạo của Đảng ta, của đường lối kháng chiến, của sức mạnh chiến tranh nhân dân. Đó là hồi kết đầy chất anh hùng ca của câu chuyện tựa như huyền thoại trong thế kỷ XX: Một dân tộc nhược tiểu, bé nhỏ, đất không rộng, người không đông, nghèo nàn, lạc hậu với vũ khí hết sức thô sơ, tự tạo, dám chống lại tên đế quốc hùng bạo có tiềm lực kinh tế, quân sự mạnh bậc nhất thế giới lúc bấy giờ; chỉ trong 50 ngày đêm, dân tộc ta đã vụt dậy như Phù Đổng bước đi thần tốc, táo bạo, chắc thắng, đập tan bộ máy chiến tranh khổng lồ gồm hơn một triệu quân Nguỵ cùng bộ máy Nguỵ quyền tàn bạo và chế độ thực dân mới đã được Mỹ dốc sức xây dựng suốt 5 đời tổng thống, mở ra kỷ nguyên mới cho đất nước ta, kỷ nguyên độc lập, thống nhất, cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Câu hỏi đặt ra là, cái gì làm nên chiến thắng đó, câu trả lời ở đây là sức mạnh của chiến tranh nhân dân, cả nước thành một mặt trận, mỗi người dân là một dũng sĩ, mỗi làng, xóm, thôn, bản là một pháo đài bất khả xâm phạm. Thế trận thiên la địa võng đã được bố trí, sử dụng và phát huy cao độ trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, nơi nào, chỗ nào cũng là thế trận của quân và dân ta, tạo thành những gọng kìm, mũi giáp công quan trọng liên tục bủa vây lấy quân xâm lược. Có thể khái quát sức mạnh của chiến tranh nhân dân trong đại thắng mùa xuân năm 1975 trên một số nét cơ bản sau: Thứ nhất, sức mạnh của chiến tranh nhân dân đã khơi dậy, phát huy cao độ tinh thần yêu nước, khát vọng đấu tranh giành độc lập dân tộc, thống nhất non sông đất nước. Ngay sau khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp kết thúc, nhân dân miền Nam lại bước vào cuộc chiến mới đầy những chông gai, thử thách, lịch sử lại một lần nữa chọn Việt Nam làm nơi thử nghiệm các loại vũ khí của chiến tranh, đấu trí giữa các bên tham chiến với nhau. Đế quốc Mỹ và chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm đã thi hành những chính sách cai trị, bóc lột cực kỳ tàn bạo, dã man, lê máy chém khắp miền Nam, đặt những người cộng sản ra ngoài phòng pháp luật, biến miền Nam thành vùng đất đau thương, chết chóc. Được dự báo từ trước, nhân dân miền Nam đã không run sợ trước uy lực, sức mạnh của kẻ thù, càng trong những tình huống như vậy, càng thúc bách, củng cố ý chí quyết tâm, quyết chiến, quyết thắng với quân thù xâm lược, nhanh chóng tổ chức lực lượng đập tan âm mưu, thủ đoạn của chúng. Hàng loạt những cuộc bãi công, biểu tình, tuần hành, thị uy đã diễn ra trên khắp chiến trường miền Nam, thu hút, lôi kéo được đông đảo các thành phần, lực lượng tham gia không phân biệt già, trẻ, gái trai, đỉnh cao của hoạt động đó là phong trào Đồng Khởi năm 1960 đã dẫn tới sự ra đời của Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh: Động viên toàn dân đoàn kết chống Mỹ, đồng thời phải nâng cao kiến thức quân sự cho toàn dân; giáo dục nhân dân từ các cháu thiếu nhi đến ông, bà già về chiến tranh nhân dân và quân đội nhân dân, tạo điều kiện để nhân dân phát huy cao độ tinh thần yêu nước, mưu trí, sáng tạo trong chiến đấu.  Lòng yêu nước của quân và dân miền Nam đã biến thành sức mạnh vật chất, tinh thần to lớn trong cuộc đọ sức với đế quốc Mỹ xâm lược, vượt qua bao khó khăn, hiểm nguy, hy sinh cả tính mạng vẫn một lòng, một dạ bám chắc thắt lưng địch để đánh, giữ vững lời thề sắt son với non sông, đất nước. Tinh thần, ý chí chiến đấu của quân và dân miền Nam đã không ngừng nảy nở, phát triển như hoa mùa xuân thông qua những trận đánh, làm phá sản các chiến lược chiến tranh của đế quốc Mỹ xâm lược, từng bước làm chủ mọi mặt trận ở cả đồng bằng, đô thị, nông thôn và rừng núi. Vì thế, cuộc đấu tranh chống lại kẻ thù xâm lược của nhân dân miền Nam đã khơi dậy mọi phẩm chất, truyền thống tốt đẹp của con người Việt Nam đã được lịch sử kiểm nghiệm, chứng minh. Trong cuộc chiến tranh này, tinh thần đó nhân lên thành khát vọng cháy bỏng Nam - Bắc sum họp một nhà để dân tộc Việt Nam, đất nước Việt Nam liền một dải. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: Miền Nam luôn trong trái tim tôi, Nam Bộ là máu của máu Việt Nam, thịt của thịt Việt Nam, sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý đó không bao giờ thay đổi.  Xe tăng của Mặt trận giải phóng miền Nam Việt Nam húc đổ cổng Dinh Độc Lập vào trưa 30/4/1975 Thứ hai, sức mạnh của chiến tranh nhân dân đã thể hiện được sự đa dạng, phong phú trong các hình thức đánh giặc. Sức mạnh của chiến tranh nhân dân trong đại thắng mùa xuân năm 1975 là sự kế thừa, tiếp nối của truyền thống đấu tranh trong lịch sử dân tộc, của tinh thần “lấy nhỏ thắng lớn, lấy ít địch nhiều”, “cả nước đồng lòng, chung sức đánh giặc”. Tới Đại thắng mùa xuân năm 1975 thì sức mạnh của chiến tranh nhân dân đã phát triển lên một trình độ mới, một chất lượng mới cao hơn, trở thành chiến tranh nhân dân toàn dân, toàn diện. Đánh địch trên khắp các mặt trận, chiến trường, chính sách đánh chính quy, đánh du kích, kết hợp đánh lớn, đánh vừa, đánh nhỏ; lúc nghi binh lừa địch, khi lại dùng sức mạnh quân sự áp đảo, có chiến dịch đánh thẳng vào tiêu diệt cơ quan đầu não rồi tỏa ra đánh địch tháo chạy ở vòng ngoài, có chiến dịch lại kéo địch ra ngoài để tiêu diệt rồi mới cô lập xiết chặt vòng trong: Phối hợp chặt chẽ giữa tiến công và nổi dậy, nổi dậy và tiến công; đánh địch trên tất cả các mặt trận chính trị, quân sự, binh vận, ngoại giao... Đánh địch với tất cả vũ khí có trong tay, từ vũ khí thô sơ tự tạo đến vũ khí hiện đại, sử dụng hiệu quả các loại vũ khí của ta đồng thời lấy vũ khí địch đánh địch. Hàng trăm xe tăng, tàu chiến, súng pháo hạng nặng, hàng ngàn xe quân sự cùng các phương tiện chiến tranh thu được của địch đã kịp thời đưa vào sử dụng. Ngay cả máy bay tiêm kích hiện đại A37 của Mỹ cũng được phi công Việt Nam điều khiển dội lửa xuống phi trường Tân Sơn Nhất và dinh Tổng thống Nguỵ. Từ gậy tầm vông, giáo mác đánh du kích, đến lối đánh hiệp đồng quân binh chủng quy mô nhiều quân đoàn chủ lực, dân tộc ta đã viết lên những trang sử vàng chói lọi nhất trong lịch sử mấy ngàn năm dựng nước và giữ nước. Sự nghiệp chính nghĩa và sức mạnh của chiến tranh nhân dân Việt Nam đã biến mảnh đất đau thương và bão lửa thành một Việt Nam huyền thoại, một Việt Nam tràn ngập sắc xuân, một Việt Nam anh hùng. Thứ ba, sức mạnh của chiến tranh nhân dân là cơ sở để củng cố ý chí quyết tâm giải phóng hoàn toàn miền Nam ngay trong năm 1975. Trước sự phát triển như vũ bão của các phong trào cách mạng trong quần chúng nhân dân và sự thắng lợi vang dội của các chiến dịch của quân và dân miền Nam, trước những biến đổi nhanh chóng của tình hình thế giới. Cuối năm 1974 đầu năm 1975, Bộ Chính trị đã họp mở rộng: Nếu thời cơ đến vào đầu hoặc cuối năm 1975, thì lập tức giải phóng miền Nam vào năm 1975. Thực hiện quyết tâm chiến lược đó, quân và dân miền Nam đã không quản ngày, đêm, nắng, mưa, khó khăn, hy sinh, “phải nắm vững thời cơ chiến lược, tranh thủ thời gian cao độ, nhanh chóng tập trung lực lượng vào hướng chủ yếu, hành động táo bạo bất ngờ, làm cho địch không kịp trở tay, hoàn thành nhiệm vụ giải phóng miền Nam càng sớm càng tốt”. Với khí thế “một ngày bằng 20 năm”, theo chỉ thị của Bộ Chính trị: “Nắm vững hơn nữa thời cơ chiến lược, với tư tưởng chỉ đạo thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng, thực hiện tổng công kích, tổng khởi nghĩa trong thời gian sớm nhất, tốt nhất là trong tháng 4 không thể để chậm”, đúng 11 giờ 30 phút ngày 30/4, cờ giải phóng tung bay trên nóc Dinh Độc Lập. Cuộc kháng chiến chống Mỹ kết thúc thắng lợi. Chiến tranh đã lùi xa, đất nước ta đang hàng ngày, hàng giờ thay da đổi thịt. Sự nghiệp đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo đang giành được những thành tựu to lớn, từng bước đưa nước ta trở thành một nước công nghiệp, sánh vai với các cường quốc năm châu và khu vực. Sự nghiệp cách mạng cũng đặt ra yêu cầu bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong bất cứ tình huống nào, trước bất kỳ kẻ thù nào và đánh thắng bất cả loại hình chiến tranh gì, kể cả chiến tranh sử dụng vũ khí công nghệ cao. Điều này đòi hỏi chúng ta phải luôn luôn thấy trước, chuẩn bị trước. Để giành thắng lợi trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc nếu xảy ra, phải là chiến tranh nhân dân. Đương nhiên, tính chất ác liệt, quy mô cuộc chiến có thể thay đổi, một cuộc chiến tranh nhân dân trong điều kiện mới thì phải hiện đại hóa, hiện đại hóa không chỉ về trang bị vũ khí mà cả về tư duy quân sự, phương thức tác chiến, tổ chức lực lượng và nghệ thuật triển khai chiến tranh. Song, tinh thần cơ bản của chiến tranh nhân dân trong giai đoạn hiện nay vẫn là toàn dân đánh giặc, lấy lực lượng vũ trang nhân dân làm nòng cốt, dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, đánh giặc bằng tất cả phương tiện và sức mạnh có trong tay. Sức mạnh của chiến tranh nhân dân trong đại thắng mùa xuân năm 1975 như đang chiếu sáng vào mỗi suy nghĩ, hành động của con người Việt Nam, thúc giục mỗi người bằng tinh thần, trách nhiệm, bổn phận và nghĩa vụ phát huy cao độ truyền thống, khí phách của dân tộc bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Trọng Sơn  - Quang Nhật

Thêm nhiều góp ý về dự thảo Luật Giáo dục

TĐKT - Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam) đã có nhiều đóng góp và ý kiến về dự thảo Luật Giáo dục tại Hội thảo góp ý kiến Dự thảo Luật Giáo dục (sửa đổi). Ủy viên Hội đồng Quốc gia Giáo dục và Phát triển nhân lực Nguyễn Minh Thuyết cho rằng, cần phải bổ sung lại Điều 1, đó là “Luật Giáo dục quy định về hệ thống giáo dục quốc dân; nhà trường, cơ sở giáo dục khác; nhà giáo, người học; quyền, trách nhiệm của tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động giáo dục; quyền, trách nhiệm của gia đình và xã hội đối với hoạt động giáo dục; quản lý nhà nước về giáo dục”. Quang cảnh hội thảo Còn tại Điều 2, thì cần lược bỏ những từ ngữ có nghĩa trùng lặp, cụ thể: Chỉ chọn 1 trong 2 cụm từ “có lòng yêu nước, tinh thần dân tộc “ hoặc “trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”; Bỏ toàn bộ cụm từ “hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân” vì “nhân cách, phẩm chất, năng lực” trùng lặp với “đạo đức, tri thức, năng lực thẩm mỹ và nghề nghiệp”. Ngay trong cụm từ “nhân cách, phẩm chất, năng lực” thì “nhân cách” cũng bao hàm cả “phẩm chất” và “năng lực”. Tại Hội thảo, các đại biểu cũng đưa ra nhiều ý kiến như về mục tiêu giáo dục, giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông và giáo dục đại học đều có mục tiêu chung là “nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài; phát triển con người Việt Nam có đạo đức, tri thức, sức khỏe, năng lực thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, biết phát huy tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân, đáp ứng nhu cầu phát triển của bản thân và yêu cầu của sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc”. Các cấp học và trình độc đào tạo này chỉ khác nhau về mức độ thực hiện mục tiêu chung, không khác nhau về bản chất. Đó không phải là căn cứ để phân biệt về quyền tự chủ. Về sách giáo khoa, cơ sở giáo dục phổ thông được quyền chọn sách giáo khoa. Trong tương lai, cơ sở giáo dục phổ thông có thể biên soạn sách giáo khoa riêng. Như vậy, thực chất không có gì khác biệt với cơ sở giáo dục đại học. Còn về hội đồng trường, theo các đại biểu những quy định về hội đồng trường trong Dự thảo Luật về cơ bản không khác quy định hiện hành. Đối với trường công lập, hội đồng trường vẫn chỉ đóng vai trò hình thức nếu chưa giải quyết được vấn đề quan hệ với cấp ủy. Nên quy định hội đồng trường do bí thư đảng ủy hoặc bí thư chi bộ làm chủ tịch. Ngoài các quyền đã quy định trong dự thảo Luật, hội đồng trường có quyền: Tổ chức bầu hiệu trưởng hoặc lấy phiếu tín nhiệm hiệu trưởng khi cần thiết; công nhận các kết quả bầu, kết quả lấy phiếu tín nhiệm đối với hiệu trưởng; phê chuẩn phó hiệu trưởng hoặc miễn nhiệm phó hiệu trưởng theo đề nghị của hiệu trưởng hoặc theo kết quả lấy phiếu tín nhiệm khi cần thiết. Đối với trường tư thục hoạt động không vì mục đích lợi nhuận, bao gồm trường có vốn đầu tư nước ngoài, không nên quy định đại diện nhà đầu tư được bầu, quyết định theo tỷ lệ vốn góp. Chỉ có trường tư thục hoạt động vì mục đích lợi nhuận mới thực hiện cơ chế hoạt động của doanh nghiệp: Bầu đại diện nhà đầu tư vào hội đồng quản trị theo tỷ lệ vốn góp; hội đồng quản trị thực hiện quyết định của đại hội cổ đông; đại hội cổ đông và hội đồng quản trị quyết định các vấn đề theo tỷ lệ vốn góp. Các ý kiến tâm huyết của đại biểu tham dự Hội thảo sẽ được Quốc hội xem xét và đưa vào Luật Giáo dục (sửa đổi) trong thời gian sắp tới. Hồng Thiết    

Sửa Nghị định số 56/2015/NĐ-CP: Những nội dung cần phải bàn

TĐKT - Từng thời kỳ, từng giai đoạn cách mạng, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành rất nhiều chính sách khen thưởng người có công với cách mạng như Bằng Có công với nước, Huân chương Kháng chiến, Huy chương Kháng chiến… đặc biệt là chính sách đối khen thưởng đối với những phụ nữ Việt Nam có nhiều cống hiến, hi sinh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế. Chính sách khen thưởng Danh hiệu vinh dự Nhà nước "Bà mẹ Việt Nam anh hùng" đã được thực hiện từ năm 1994 thế kỷ XX cho đến nay và sẽ còn tiếp tục thực hiện ở những năm tiếp theo, thể hiện đạo lý “Uống nước nhớ nguồn” tốt đẹp của dân tộc, của Nhà nước và cộng đồng xã hội, nhằm ghi nhận, tôn vinh những bà mẹ bản thân là liệt sĩ, có chồng, con là liệt sĩ đã hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc và thực hiện nghĩa vụ quốc tế. Thực hiện Pháp lệnh Danh hiệu vinh dự Nhà nước "Bà mẹ Việt Nam anh hùng" năm 1994 và Nghị định 176-CP ngày 20 tháng 10 năm 1994, trên cơ sở đề nghị của Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch nước Lê Đức Anh đã ký quyết định tặng và truy tặng danh hiệu “Bà mẹ Việt Nam Anh hùng” đợt đầu tiên cho 19.879 bà mẹ trong cả nước, trong đó có các bà mẹ tiêu biểu: Mẹ Nguyễn Thị Thứ ở Điện Thắng, Điện Bàn, Quảng Nam có 9 con, 1 rể, 2 cháu ngoại là liệt sĩ; Mẹ Phạm Thị Ngư ở Hàm Hiệp, Hàm Thuận, Bình Thuận có 8 con là liệt sĩ, bản thân mẹ là Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân; Mẹ Trần Thị Mít ở Hải Phú, Hải Lăng, Quảng Trị có 9 con là liệt sĩ; Mẹ Nguyễn Thị Rành, ở Phước Hiệp, Củ Chi, TP Hồ Chí Minh có 8 con là liệt sĩ, bản thân mẹ là Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân; mẹ Nguyễn Thị Dương ở Triệu Thành, Triệu Phong, Quảng Trị có 8 con thì 5 con là liệt sĩ (3 người con khác là: Đại tướng Đoàn Khuê, Trung tướng Đoàn Chương và Đại tá Đoàn Thúy).  Qua các phương tiện thông tin đại chúng và qua dư luận, nhân dân và cộng đồng xã hội rất hoan nghênh chính sách này của Nhà nước, từ đó đã dấy lên phong trào thi đua xây “Nhà tình nghĩa”, nhận phụng dưỡng "Bà mẹ Việt Nam anh hùng" đối với với các bà mẹ còn sống, neo đơn… Ủy ban Thường vụ Quốc hội tiếp tục ban hành Pháp lệnh về Danh hiệu vinh dự Nhà nước "Bà mẹ Việt Nam anh hùng" năm 2013, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 56/2013/NĐ-CP ngày 22 tháng 5 năm 2013 hướng dẫn thực hiện Pháp lệnh, Bộ Nội vụ, Bộ Quốc phòng, và Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã ban hành Thông tư liên tịch số 03/2014/TTLT-BNV-BLĐTBXH-BQP ngày 10 tháng 10 năm 2014 giữa Bộ Nội vụ, Bộ Quốc phòng, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ngày 10 tháng 10 năm 2014 hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 56/2013/NĐ-CP của Chính phủ. Theo văn bản của Ban Thi đua - Khen thưởng Trung ương báo cáo Thủ tướng Chính phủ, tính đến ngày 22/2/2018,  sau 4 năm triển khai thực hiện Pháp lệnh Danh hiệu vinh dự Nhà nước "Bà mẹ Việt Nam anh hùng" năm 2013, cả nước đã có 81.687 Bà mẹ được phong tặng và truy tặng danh hiệu vinh dự Nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng” (trong đó phong tặng 11.895 Bà mẹ, truy tặng 69.792 Bà mẹ). Nhìn chung, các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đã cơ bản hoàn thành chính sách này. Tuy nhiên, qua văn bản của Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương báo cáo tình hình, kết quả thực thi chính sách, qua trao đổi với lãnh đạo các địa phương trong chỉ đạo thực hiện, cả nước còn khoảng 4.500 trường hợp chưa được làm thủ tục đề nghị. Các trường hợp này hầu hết là vướng mắc trong quy định về đối tượng, thủ tục hồ sơ dẫn đến việc xét duyệt tại các địa phương gặp nhiều khó khăn. Nhiều thân dân của các bà mẹ đang làm thủ tục đề nghị phong tặng, truy tặng danh hiệu vinh dự Nhà nước "Bà mẹ Việt Nam anh hùng" tỏ ra rất bức xúc, đã đề nghị Đoàn Đại biểu Quốc hội địa phương mình gửi câu hỏi chất vấn Chính phủ, thành viên của Chính phủ trong các phiên chất vấn tại kỳ họp Quốc hội hoặc làm đơn thư gửi trực thiếp Thủ tướng Chính phủ yêu cầu trả lời, làm rõ. Để có giải pháp khắc khục những tồn tại trên, cần phân tích những hạn chế, bất cập trong quá trình thực thi chính sách ưu đãi danh hiệu vinh dự Nhà nước "Bà mẹ Việt Nam anh hùng" trong quy định Nghị định số 56/2013/NĐ-CP ngày 22 tháng 5 năm 2013 của Chính phủ và Thông tư liên tịch số 03/2014/TTLT-BNV-BLĐTBXH-BQP ngày 10 tháng 10 năm 2014  giữa Bộ Nội vụ, Bộ Quốc phòng, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội ngày 10 tháng 10 năm 2104). Thứ nhất, việc giao Bộ Quốc phòng chủ trì, xây dựng và tham mưu Thủ tướng Chính phủ, Chính phủ ban hành Nghị định số 56/2013/NĐ-CP ngày 22 tháng 5 năm 2013 của Chính phủ hướng dẫn thi hành Pháp lệnh Danh hiệu vinh dự Nhà nước "Bà mẹ Việt Nam anh hùng" 2013 là chưa đầy đủ.  Do Bộ Quốc phòng không quản lý hồ sơ liệt sĩ, không quản lý chế độ người có công với cách mạng nói chung và "Bà mẹ Việt Nam anh hùng" nói riêng nên việc thu thập thông tin về liệt sĩ, tình hình thực hiện chế độ liệt sĩ, hoàn cảnh gia đình liệt sĩ để tham mưu Thủ tướng Chính phủ, Chính phủ ban hành Nghị định số 56/2013/NĐ-CP có nhiều điểm chưa sát với thực tiễn (Nghị định 176 NĐ-CP ngày 23 tháng 10 năm 1994 trước đây hướng dẫn thi hành Pháp lệnh Danh hiệu vinh dự Nhà nước "Bà mẹ Việt Nam anh hùng" năm 1994 do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Quốc phòng tham mưu).   Thứ hai, tại Khoản 1 Điều 2Nghị định số 56/2013/NĐ-CP ngày 22 tháng 5 năm 2013 của Chính phủ quy định về đối tượng danh hiệu vinh dự Nhà nước "Bà mẹ Việt Nam anh hùng": “Điều 2. Đối tượng được xét tặng hoặc truy tặng danh hiệu vinh dự Nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng” “1. Những bà mẹ thuộc một trong các trường hợp sau đây được xét tặng hoặc truy tặng danh hiệu vinh dự Nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng”: a) Có 2 con trở lên là liệt sĩ; b) Chỉ có 2 con mà 1 con là liệt sĩ và 1 con là thương binh suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên; c) Chỉ có 1 con mà người con đó là liệt sĩ; d) Có 1 con là liệt sĩ và có chồng hoặc bản thân là liệt sĩ; đ) Có 1 con là liệt sĩ và bản thân là thương binh suy giảm khả năng lao động từ 81 % trở lên. Người con là liệt sĩ là người đã được Thủ tướng Chính phủ tặng Bằng “Tổ quốc ghi công”, bao gồm con đẻ, con nuôi theo quy định của pháp luật. Người chồng là liệt sĩ là người đã được Thủ tướng Chính phủ tặng Bằng “Tổ quốc ghi công” mà bà mẹ là vợ của người đó. Thương binh quy định tại Điểm b, Điểm đ Khoản 1 Điều này là người đã được cấp có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận thương binh, bị suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên, bao gồm cả người còn sống và người đã từ trần. Trường hợp bà mẹ có chồng, con tham gia hàng ngũ địch nhưng bà mẹ chấp hành đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước thì vẫn được xem xét tặng hoặc truy tặng danh hiệu vinh dự Nhà nước ‘‘Bà mẹ Việt Nam anh hùng”. Trường hợp quy định tại Mục b, Khoản 1, Điều 2 Nghị định số 56/2013/NĐ-CP ngày 22 tháng 5 năm 2013 chỉ quy định người mẹ có 1 con là liệt sĩ và 1 con là thương binh trên 81% đủ tiêu chuẩn đề nghị danh hiệu vinh dự Nhà nước "Bà mẹ Việt Nam anh hùng" nhưng không quy định đối với trường hợp bà mẹ có 2 con là thương binh trên 81%. Thứ ba, qua quá trình triển khai thực tế, tại địa phương còn có rất nhiều đối tượng mà Nghị định 56/2013/NĐ-CP và Thông tư liên tịch số 03/2014/TTLT-BNV-BLĐTBXH-BQP chưa bao quát đến. Những đối tượng này cũng được thân nhân làm thủ tục đề nghị danh hiệu vinh dự Nhà nước "Bà mẹ Việt Nam anh hùng", đó là: - Bà mẹ có 1 con chồng và 1 con đẻ là liệt sĩ. - Bà mẹ là người nước ngoài lấy chồng Việt Nam hoặc là người Việt Nam có quốc tịch nước ngoài, có 2 con đẻ là liệt sĩ; - Bà mẹ có chồng là liệt sĩ nhưng không có con với người đó, lại có con duy nhất ngoài giá thú là liệt sĩ; - Bà mẹ có 4 người con trong đó 2 con đi lính Việt Nam cộng hòa, 2 con thoát ly đi cách mạng. 2 con đi tham gia cách mạng hy sinh được công nhận là liệt sĩ, được cấp Bằng Tổ quốc ghi công; - Bà mẹ có 2 chồng (chồng trước và chồng sau) là liệt sĩ; - Bà nội, bà ngoại có công nuôi dưỡng cháu là liệt sĩ khi mồ côi bố mẹ từ nhỏ; - Bác, cô, dì, thím, mợ có công nuôi dưỡng cháu là liệt sĩ khi mồ côi bố mẹ từ nhỏ. Thứ tư, tại Khoản 4, Điều 3 Thông tư liên tịch số 03/2014/TTLT-BNV-BLĐTBXH-BQP ngày 10 tháng 10 năm 2104 quy định về đối tượng đề nghị Danh hiệu vinh dự Nhà nước "Bà mẹ Việt Nam anh hùng" trong đó có mẹ kế trong khi Nghị định số 56/2013/NĐ-CP ngày 22 tháng 5 năm 2013 của Chính phủ không quy định. Mặc dù vậy, trường hợp người mẹ kế được làm thủ tục đề nghị phong tặng, truy tặng danh hiệu vinh dự Nhà nước "Bà mẹ Việt Nam anh hùng" như trong Thông tư liên tịch số 03/2014/TTLT-BNV-BLĐTBXH-BQP quy định, thì tiêu chuẩn mẹ kế lại phải nuôi 2 con chồng trở lên mới được đề nghị. Điều này đã gây bức xúc trong xã hội và nhân dân đối với những bà mẹ chỉ nuôi 1 con chồng (trường hợp liệt sĩ là con độc nhất của chồng). Thứ năm, theo phong tục tập quán của Việt Nam trước đây, việc cho, nhận con nuôi chỉ bằng sự đồng ý của bố mẹ hai bên nên không có căn cứ để chứng minh là mẹ nuôi, con nuôi. Vì vậy, bổ sung những thủ tục để công nhận bà mẹ nhận liệt sĩ là con nuôi trước đây theo quy định Luật con nuôi mới được ban hành năm 2010 là không thực hiện được, hiện tại chỉ căn cứ vào biên bản họp của dòng họ, gia đình và xác nhận của chính quyền địa phương. Căn cứ như vậy cũng không đảm bảo chính xác vì nhừng người thân trong gia đình thuộc thân nhân được ưởng quyền, lợi, chính sách của bà mẹ nếu được phong tặng, truy tặng danh hiệu vinh dự nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng”. Như vậy cần có căn cứ gì để xác nhận mà mẹ là mẹ nuôi của liệt sĩ khi lập hồ sơ đề nghị khen thưởng (Khoản 4, Điều 3 Thông tư liên tịch số 03/2014/TTLT-BNV-BLĐTBXH-BQP ngày 10 tháng 10 năm 2104). Thứ sáu, Nghị định số 56/2013/NĐ-CP ngày 22 tháng 5 năm 2013 của Chính phủ và Thông tư liên tịch số 03/2014/TTLT-BNV-BLĐTBXH-BQP ngày 10 tháng 10 năm 2104 chưa quy định đối tượng, thủ tục đối với những bà mẹ của liệt sĩ có đủ tiêu chuẩn nhưng đã định cư ở nước ngoài hoặc định cư và từ trần ở nước ngoài. Thủ tục đối với các bà mẹ từ Nam vĩ tuyến 17 từ Quảng Trị trở vào, khi có 4 người con, trong đó 2 con đi lính Việt Nam Cộng hòa, 2 con thoát ly tham gia cách mạng, 2 con tham gia cách mạng hy được công nhận là liệt sĩ, đã được cấp Bằng Tổ quốc ghi công. Thứ bảy, việc thực hiện chế độ giữa bà mẹ được phong tặng "Bà mẹ Việt Nam anh hùng" khác với bà mẹ được truy tặng  "Bà mẹ Việt Nam anh hùng". Cụ thể: “Bà mẹ được phong tặng thì được hưởng trợ cấp hàng tháng là 1.118.000 đồng, bà mẹ được truy tặng thì được hưởng trợ cấp một lần là: 28.340.000 đồng (so sánh mức hưởng trợ cấp hàng tháng với mức trợ cấp một lần khác nhau). Điều quan trọng là các bà mẹ được phong tặng danh hiệu vinh dự Nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng” tuổi đã quá cao, không còn sống được bao nhiêu lâu nữa. Thứ tám, các bà mẹ còn sống có thể được tặng 1 ngôi nhà tình nghĩa và có người chăm sóc nếu neo đơn. Trong trường hợp bà mẹ có con cháu ở cùng, phụng dưỡng, đến khi bà mẹ mất con cháu cũng không được sử dụng ngôi nhà đó mà có thể bị nhà nước thu lại sử dụng vào mục đích công cộng khác. Thứ chín, do đặc điểm vùng miền nên trong số hơn 4500 bà mẹ chưa được làm thủ tục đề nghị phong tặng danh hiệu có hơn 200 bà mẹ của tỉnh Quảng Nam, phần lớn rơi vào các xã, huyện vùng sâu, vùng xa.  Việc triển khai thực hiện ở các huyện này chưa được tiến hành đồng bộ, khó khăn. Thêm vào đó, do yếu tố lịch sử, cao trào cách mạng, tình hình tương quan lực lượng giữa ta và địch khác nhau dẫn đến những căn cứ lịch sử khi xét danh hiệu vinh dự Nhà nước "Bà mẹ Việt Nam anh hùng" cũng khác nhau. Chính sách khen thưởng người có công với cách mạng nói chung và chính sách khen thưởng danh hiệu vinh dự Nhà nước "Bà mẹ Việt Nam anh hùng" nói riêng được Đảng và Nhà nước, Chính phủ đã ban hành là một chính sách đúng đắn, hợp với lòng dân nhằm ghi nhận, tôn vinh các mà mẹ có chồng, con và bản thân hy sinh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và thực hiện nghĩa vụ quốc tế. Tuy nhiên, qua quá trình thực thi chính sách ưu đãi này đã xuất hiện những bất cập, vướng mắc về đối tượng, thủ tục, chế độ ưu đãi như đã nêu ở phần trên. Qua báo cáo của các tỉnh và tỉnh Quảng Nam, qua trao đổi với các lãnh đạo của các địa phương, qua phần phân tích ở trên, tôi xin đề xuất những giải pháp để khắc phục những hạn chế trong thực thi chính sách, giải quyết dứt điểm hơn 4500 trường hợp tồn đọng, chưa được Chủ tịch nước phong tặng, truy tặng danh hiệu vinh dự Nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng” trong đó có hơn 200 bà mẹ của tỉnh Quảng Nam. Cụ thể: Thứ nhất, bổ sung Bộ Tài chính vào Ban soạn thảo xây dựng chính sách, sửa đổi một số nội dung trong Nghị định số 56/2013/NĐ-CP ngày 22 tháng 5 năm 2013 của Chính phủ và Thông tư liên tịch số 03/2014/TTLT-BNV-BLĐTBXH-BQP ngày 10 tháng 10 năm 2014 để thống nhất về chế độ ưu đãi giữa bà mẹ được phong tặng và truy tặng. Thứ hai, bổ sung thêm những đối tượng sau vào Khoản 1 Điều 2 Nghị định số 56/2013/NĐ-CP ngày 22 tháng 5 năm 2013 của Chính phủ quy định về đối tượng Danh hiệu vinh dự Nhà nước "Bà mẹ Việt Nam anh hùng": “…- Bà mẹ là người Việt Nam có quốc tịch nước ngoài; - Bà mẹ có chồng là liệt sĩ nhưng không có con với người đó, lại có con duy nhất ngoài giá thú là liệt sĩ”. - Bà mẹ có 1 con chồng và 1 con đẻ là liệt sĩ. - Riêng đối với bà mẹ có 4 người con trong đó 2 con đi lính Việt Nam Cộng hòa, 2 con thoát ly tham gia cách mạng. Hai người con tham gia cách mạng hy được công nhận là liệt sĩ, cấp Bằng Tổ quốc ghi công. Cần phải có quy định thêm về thủ tục xét thái độ chính trị của bà mẹ (ủng hộ hay chống đối cách mạng, hai con đi lính Việt Nam Cộng hòa vì nghĩa vụ bắt buộc hay tự nguyện trở thành tay sai, tề ngụy gian ác) mà xem xét, đề nghị. Thứ ba, bãi bỏ quy định trong Khoản 4, Điều 3 Thông tư liên tịch số 03/2014/TTLT-BNV-BLĐTBXH-BQP ngày 10 tháng 10 năm 2014 về đối tượng là mẹ kế vì Nghị định số 56/2013/NĐ-CP ngày 22 tháng 5 năm 2013 của Chính phủ không quy định đối tượng mẹ kế (Thông tư trái với Nghị định). Thứ tư, mặc dù phát sinh trong thực tế triển khai nhưng không bổ sung đối tượng là bà nội, bà ngoại có công nuôi dưỡng cháu là liệt sĩ khi mồ côi bố mẹ từ nhỏ; bác, cô, dì, thím, mợ, chị ruột có công nuôi dưỡng liệt sĩ khi mồ côi bố mẹ từ nhỏ. Cần phải giải thích cho nhân dân hiểu rõ những đối tượng trên thuộc đối tượng là thân nhân của liệt sĩ được quy định tại Điều 4 Nghị định số 31/2013/NĐ-CP ngày 09 tháng 4 năm 2013 của Chính phủ thực hiện Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng 2012, không được công nhận là mẹ nuôi (Luật Con nuôi 2012). Trường hợp đủ tiêu chuẩn thì mẹ đẻ của liệt sĩ cũng đã được đề nghị truy tặng Danh hiệu vinh dự Nhà nước "Bà mẹ Việt Nam anh hùng" rồi.   Không bổ sung đối tượng “Bà mẹ là người nước ngoài lấy chồng Việt Nam” vì không đúng với chủ trương về danh hiệu vinh dự Nhà nước "Bà mẹ Việt Nam anh hùng" khen cho người mẹ dân tộc Việt Nam và trái với quy định thân nhân đang hưởng chế độ gia đình liệt sĩ tại Việt Nam.  Thứ năm, bổ sung tiêu chuẩn đề nghị Danh hiệu vinh dự Nhà nước "Bà mẹ Việt Nam anh hùng" đối với: - Bà mẹ có chồng trước là liệt sĩ, sau đó lấy chồng sau cũng là liệt sĩ; - Bà mẹ có 2 con là thương binh trên 81% Thứ sáu, bổ sung quy định về thủ tục đối với trường hợp liệt sĩ là con nuôi khi lập hồ sơ đề nghị danh hiệu vinh dự Nhà nước "Bà mẹ Việt Nam anh hùng", bao gồm: - Giấy báo tử trong đó có ghi tên bà mẹ (mẹ nuôi); - Biên bản dòng họ của liệt sĩ (hoặc biên bản dòng họ xác nhận việc nhận nuôi liệt sĩ là đúng); - Xác nhận của chính quyền địa phương về tính chính xác nội dung họp của dòng họ; - Sổ hưởng chế độ trợ cấp gia đình liệt sĩ mà bà mẹ đó đang thụ hưởng nếu đang còn sống hoặc thân nhân của bà mẹ đang thụ hưởng trường hợp bà mẹ đó đã từ trần (chứng minh là thân nhân của liệt sĩ). Thứ bảy, quy định thêm thủ tục đối với những trường hợp mẹ của liệt sĩ có đủ tiêu chuẩn nhưng đã định cư ở nước ngoài hoặc đã định cư và từ trần ở nước ngoài, cụ thể: - Khi tiếp nhận hồ sơ đề nghị danh hiệu vinh dự Nhà nước "Bà mẹ Việt Nam anh hùng" đối với trường hợp bà mẹ đó định cư ở nước ngoài, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Ban Thi đua - Khen thưởng tỉnh phải tham mưu lãnh đạo Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố có văn bản gửi Ủy ban Người Việt Nam ở nước ngoài, Bộ Ngoại giao xác nhận với 2 nội dung: - Về thái độ chính trị của bà mẹ đối với Nhà nước Việt Nam; - Về việc chấp hành pháp luật của Nhà nước sở tại (kể cả còn sống hay đã từ trần). Thứ tám, bổ sung thêm quy định về việc con cháu, thân nhân đã có công chăm sóc "Bà mẹ Việt Nam anh hùng" từ lúc còn sống đến khi từ trần được hưởng phần chế độ của bà mẹ để lại bao gồm nhà tình nghĩa, các chế độ thờ cúng hàng năm. Thứ chín, bổ sung thêm quy định về hỗ trợ về tài chính, phương tiện trong việc triển khai chính sách này đối với những vùng núi khó khăn, những nơi có yếu tố lịch sử cách mạng phức tạp (cao trào cách mạng thay đổi theo từng giai đoạn khi bị địch khủng bố gắt gao) những yếu tố liên quan đến điều kiện thực hiện chính sách, nhận thức của người dân, số lượng các "Bà mẹ Việt Nam anh hùng".... Hoặc bổ sung quy định trách nhiệm của cơ quan lao động, thương binh và xã hội, cơ quan thi đua - khen thưởng chủ động, phối hợp tiến hành các thủ tục với những trường hợp ở vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn khi làm thủ tục đề nghị khen thưởng danh hiệu vinh dự Nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng” thay cho thân nhân bà mẹ như đối với việc kê khai khen thưởng Huân chương Độc lập cho gia đình có nhiều liệt sĩ (Thông tư Liên bộ số 44/LBXH giữa Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội và Viện Huân chương). Thứ mười, bổ sung thêm một nội dung trong Nghị định số 56/2013/NĐ-CP ngày 22 tháng 5 năm 2013 của Chính phủ và Thông tư liên tịch số 03/2014/TTLT-BNV-BLĐTBXH-BQP ngày 10 tháng 10 năm 2014  ngày 10 tháng 10 năm 2104 quy định thủ tục ủy quyền người thân đang thờ cúng bà mẹ đứng ra đại diện làm thủ tục đề nghị truy tặng danh hiệu vinh dự Nhà nước "Bà mẹ Việt Nam anh hùng" là người được hưởng chế độ của bà mẹ khi có quyết định của Chủ tịch nước truy tặng. Trên đây là một số nội dung cần được nghiên cứu, sửa đổi trong quá trình thực thi chính sách khen thưởng đối với các bà mẹ được phong tặng, truy tặng danh hiệu vinh dự Nhà nước "Bà mẹ Việt Nam anh hùng" nhằm khắc phục những bất cập, tồn tại. Phùng Thị   TÀI LIỆU THAM KHẢO  - Ông Trương Quốc Bảo (2010), Vận dụng tư tưởng Hồ Chí minh về thi đua yêu nước trong xây dựng và hoàn thiện pháp luật thi đua, khen thưởng của Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội; - Luận văn thạc sĩ của ông Nguyễn Hữu Đoạt: “Hoàn thiện văn bản quy phạm pháp luật đối với công tác thi đua, khen thưởng ở Việt Nam hiện nay”. - TS. Trần Hữu Nam (2010), Chủ nhiệm đề tài khoa học độc lập cấp Nhà nước “Lịch sử thi đua, khen thưởng”;  - Ths. Trần Thị Hà, Thứ trưởng Bộ Nội vụ, Trưởng Ban thi đua – Khen thưởng Trung ương, Chủ nhiệm đề tài độc lập cấp Nhà nước: “Cơ sở lý luận và thực tiễn đổi mới thi đua, khen thưởng trong giai đoạn hiện nay". Mã số: 02/2010. - Luận văn thạc sĩ của bà Dương Thị Thanh (2007): “Đổi mới quản lý nhà nước về công tác thi đua, khen thưởng ở địa phương”;  - PGS. TS Nguyễn Thế Thắng, Chủ nhiệm đề tài: “Những vấn đề lý luận chung về thi đua, khen thưởng”, thuộc đề tài nhánh của đề tài độc lập cấp Nhà nước: “Cơ sở lý luận và thực tiễn đổi mới thi đua, khen thưởng trong giai đoạn hiện nay” năm 2012. - Đề án: “Đổi mới công tác Thi đua - Khen thưởng” do Ban Thi đua – Khen thưởng Trung ương chủ trì trình Bộ Chính trị. - Một số tài liệu tham khảo như: “Kỷ yếu về Đại hội thi đua yêu nước toàn quốc và một số địa phương trong thời kỳ đổi mới”... - Một số bài viết đăng trên Tạp chí Thi đua Khen thưởng đã đề cập các nội dung liên quan đến công tác thi đua, khen thưởng làm đề tài nghiên cứu. - Báo cáo tình hình thực hiện chính sách ưu đãi Danh hiệu vinh dự Nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng” của các tỉnh, thành phố và tỉnh Quảng Nam. - Pháp lệnh Danh hiệu vinh dự Nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng” năm 1993; - Nghị định 176-CP ngày 23 tháng 10 năm 1994 của Chính phủ hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh Danh hiệu vinh dự Nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng”. - Nghị định số 31/2013/NĐ-CP ngày 09 tháng 4 năm 2013 của Chính phủ thực hiện Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng 2012. - Luật Con nuôi năm 2013. - Luật Thừa kế 2015. - Thông tư Liên bộ số 44/TBXH –VHC/LB của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội và Viện Huân chương hướng dẫn thực hiện chủ trương của Hội đồng Nhà nước về việc tặng thưởng Huân chương Độc lập cho các gia đình có nhiều liệt sĩ hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc hướng dẫn thi hành Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng. - Trao đổi nghiệp vụ tại hội nghị triển khai chính sách khen thưởng Danh hiệu vinh dự Nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng” các địa phương và tỉnh Quảng Nam. - Bài giảng của TS Nguyễn Khắc Bình, Tổng thư ký Hội đồng Khoa học Học viện Khoa học - Xã hội về thực thi chính sách công. - Một số khái niệm của các học giả Việt Nam và nước ngoài về chính sách công và thực thi chính sách.  

Trang