Diễn đàn

Nâng cao chất lượng công tác cán bộ của Văn phòng Quốc hội

TĐKT - Phát biểu bế mạc Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã chỉ rõ: “Quản lý cán bộ, đảng viên còn lỏng lẻo. Đánh giá, sử dụng, bố trí cán bộ còn nể nang, cục bộ. Công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho cán bộ, đảng viên chưa được coi trọng đúng mức, chậm đổi mới, kém hiệu quả. Công tác kiểm tra, giám sát, giữ gìn kỷ cương, kỷ luật ở nhiều nơi chưa thường xuyên, không nghiêm túc”. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng phát biểu tại Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII Nhằm đảm bảo công tác cán bộ phù hợp với yêu cầu trong tình hình mới; đồng thời, thí điểm đổi mới trong việc đánh giá cán bộ “đủ đức, thực tài”; mới đây ngày 30/9/2021, Đảng ủy cơ quan Văn phòng Quốc hội đã ban hành văn bản số 378 HD/ĐU về việc hướng dẫn (tạm thời) về quy trình giới thiệu, bổ nhiệm cán bộ lãnh đạo quản lý cấp Tổng cục, cấp Vụ hoặc tương đương của Văn phòng Quốc hội. Văn bản này cho thấy, ngoài những tiêu chuẩn chung theo quy định của Đảng và Nhà nước thì còn một số tiêu chuẩn mới, riêng được thí điểm nhằm nâng cao chất lượng của cán bộ lãnh đạo Văn phòng Quốc hội. Liên quan tới vấn đề này, phóng viên đã có cuộc trao đổi với nguyên Đại biểu Quốc hội khóa 14, Phó Trưởng Ban Dân nguyện Quốc hội, Tiến sĩ luật Lưu Bình Nhưỡng. Phó Trưởng Ban Dân nguyện Quốc hội cho hay, Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIII đã kết thúc tốt đẹp và thống nhất cao ban hành Quy định mới về những điều đảng viên không được làm. Điều mới tại Hội nghị Trung ương lần này là đã mở rộng phạm vi, không chỉ trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng mà còn bao gồm cả trong xây dựng hệ thống chính trị đúng theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng; cùng với ngăn chặn, đẩy lùi thì phải chủ động phòng ngừa, kiên quyết đấu tranh, xử lý nghiêm sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và những hành vi tham nhũng, tiêu cực... Đồng thời, bổ sung, làm rõ hệ thống những biểu hiện của sự suy thoái về tư tưởng chính trị và đạo đức, lối sống, "tự diễn biến", "tự chuyển hoá", "tiêu cực" sát hợp tình hình mới. Như vậy, văn bản của Đảng ủy cơ quan Văn phòng Quốc hội mới ban hành là rất phù hợp với tình hình mới. Ông Lưu Bình Nhưỡng chia sẻ: “Tôi đã từng phát biểu rằng: “Tôi mong muốn rằng, Chính phủ phải là một Chính phủ sáng tạo, hành động; Quốc hội phải là một Quốc hội “nhân văn” - đỉnh cao của quyền lực nhân dân; còn cơ quan tư pháp, đặc biệt là Toà án là biểu tượng - hiện thân của công lý. Quốc hội là đỉnh cao quyền lực của nhân dân và như tôi cũng đã phát biểu: “Trong kết quả thắng lợi của Chính phủ, Tòa án, Kiểm sát, Kiểm toán, hoạt động của Chủ tịch nước đều có bóng dáng, công lao, sự cố gắng của đại biểu Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội và Quốc hội”. Chính vì vậy công tác cán bộ của Quốc hội là vô cùng quan trọng!”. Nguyên Đại biểu Quốc hội khóa 14, Phó Trưởng Ban Dân nguyện Quốc hội, Tiến sĩ luật Lưu Bình Nhưỡng. Ông Lưu Bình Nhưỡng thẳng thắn nói, nhiều cán bộ, lãnh đạo hiện nay có lối sống ích kỷ, thực dụng, hám danh, hám quyền lực, tham nhũng, tiêu cực; bè phái cục bộ, mất đoàn kết; quan liêu, xa dân, vô cảm trước những khó khăn, bức xúc của dân. Như chúng ta đã biết, thời gian qua Trung ương đã kỷ luật và đề nghị cấp có thẩm quyền thi hành kỷ luật hơn 1.300 tổ chức đảng và hơn 70.000 đảng viên vi phạm, có cả những người giữ cương vị cao của Đảng, Nhà nước, lãnh đạo chủ chốt các địa phương, đơn vị, sĩ quan cấp tướng trong lực lượng vũ trang, đương chức hoặc đã nghỉ hưu... Việc chạy chức, chạy quyền từ ngày xưa và đến bây giờ vẫn vậy; nó luôn là một chủ đề nóng hổi, xảy ra ở mọi nơi và kể cả tại Quốc hội cũng không là ngoại lệ. Thời gian qua xảy ra một loạt các vụ “nâng đỡ không trong sáng” tại các địa phương như Quảng Nam, Thanh Hóa, Vĩnh Phúc…Báo chí vào cuộc phản ánh và cơ quan chức năng đã phải vào cuộc xử lý. Vị Tiến sĩ luật khẳng định, việc Đảng ủy cơ quan Văn phòng Quốc hội ban hành văn bản về việc hướng dẫn (tạm thời) về quy trình giới thiệu bổ nhiệm cán bộ lãnh đạo quản lý cấp Tổng cục, cấp Vụ hoặc tương đương của Văn phòng Quốc hội trong giai đoạn “bình thường mới” hiện nay là vô cùng cần thiết; nó thể hiện tính trách nhiệm cao trong việc “đặt” quyền lực nhân dân vào những cán bộ có “đủ đức, thực tài”. “Từng tham gia hoạt động nghị trường, nay vẫn tiếp tục làm cán bộ của Quốc hội, trong hướng dẫn này, tôi nhận thấy có một số điểm mới tại tiêu chuẩn bổ nhiệm Vụ trưởng và tương đương; Tổng Biên tập báo Đại biểu Nhân dân; Tổng Giám đốc Truyền hình Quốc hội nhằm đánh giá sâu sát cũng như tránh chuyện “nâng đỡ không trong sáng” cán bộ” - ông Nhưỡng chia sẻ thêm. Vị Tiến sĩ luật phân tích, ngoài những tiêu chuẩn chung, văn bản này đã chi tiết hóa những cán bộ được giới thiệu, bổ nhiệm này phải có đủ những năng lực như tham mưu, tổ chức, đề xuất, đánh giá, phân tích, tổng kết, quản trị, cải cách hành chính…; phải nắm vững đường lối chính sách của Đảng, Nhà nước, phải am hiểu tình hình chính trị, kinh tế - xã hội của đất nước và thế giới. Đặc biệt là quy định về kinh nghiệm công tác, theo đó các cán bộ được giới thiệu, bổ nhiệm phải có kinh nghiệm công tác 3 năm đảm nhiệm và hoàn thành tốt chức vụ Phó Vụ trưởng hoặc tương đương… trừ trường hợp đặc biệt (Theo quy định của Đảng, trường hợp đặc biệt ở đây là nhân sự duy nhất không có người thay thế). Đây là một quy định quan trọng đòi hỏi một năng lực thực sự của cán bộ được tổ chức nhìn nhận, đánh giá và tín nhiệm. Những quy định này sẽ là "barrie" cho những người muốn giúp đỡ “không trong sáng” và những người muốn tìm cách “leo cao không trong sáng” - Phó Trưởng Ban Dân nguyện Quốc hội Lưu Bình Nhưỡng nhấn mạnh. Tố Quyên

Để thi đua không chỉ có "phát" mà nhất thiết phải "động"

TĐKT - “Việc tổ chức phong trào thi đua “Công nhân, viên chức, lao động nỗ lực vượt khó, sáng tạo, quyết tâm chiến thắng đại dịch COVID-19” không chỉ có “phát” mà nhất thiết phải “động”, phải đến và được đoàn viên công đoàn, CNVCLĐ hưởng ứng” -  Đó là những nội dung được nhiều đại biểu quan tâm, thảo luận tại Hội nghị trực tuyến toàn quốc triển khai một số nội dung về công tác thi đua, khen thưởng do Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam tổ chức sáng 6/10. Nỗ lực để vượt khó Trong bối cảnh hiện nay, dịch bệnh COVID - 19 đã tác động tiêu cực đến hầu hết các mặt của đời sống xã hội, nhiều hoạt động bị gián đoạn, trì trệ và cần có thời gian để đưa tất cả vào nếp và vào guồng trở lại. Tại các doanh nghiệp, việc tái khởi động hoạt động sản xuất, kinh doanh gặp trở ngại ở nhiều mặt, trước mắt là huy động lực lượng công nhân lao động, nhất là ở các tỉnh, thành phố khu vực phía Nam đã và đang chuyển về quê sau thời gian dài ngưng việc và những ám ảnh bởi dịch bệnh, bởi điều kiện sống và sinh hoạt ở nhà trọ chật hẹp trong các khu phong tỏa… Hội nghị trực tuyến toàn quốc triển khai một số nội dung về công tác thi đua, khen thưởng tại điểm cầu Hà Nội Tại các cơ quan, đơn vị, quá trình làm việc trực tuyến cũng phát sinh một số vấn đề liên quan đến tinh thần trách nhiệm, động lực làm việc; thái độ và cách tiếp cận công việc và tâm thế sẵn sàng trở lại cho một hành trình mới đầy chông gai. Việc khơi dậy tinh thần đoàn kết, ý chí tự lực, tự cường, nỗ lực vượt khó, năng lực sáng tạo của đoàn viên công đoàn, CNVCLĐ tại thời điểm này là rất cần thiết. Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam tổ chức phong trào thi đua “Công nhân, viên chức, lao động nỗ lực vượt khó, sáng tạo, quyết tâm chiến thắng đại dịch Covid-19”; đây là hoạt động thiết thực hưởng ứng phong trào thi đua đặc biệt do Thủ tướng Chính phủ phát động. Phong trào góp phần cổ vũ, động viên đoàn viên công đoàn, công chức, viên chức và người lao động tự lực, tự cường, chung sức, đồng lòng thực hiện có hiệu quả các giải pháp phòng, chống đại dịch Covid-19; đồng thời là trách nhiệm và quyết tâm cao nhất của tổ chức Công đoàn Việt Nam đồng hành cùng Chính phủ, doanh nghiệp và cả nước trong công tác phòng, chống đại dịch Covid-19 với tinh thần “Chống dịch như chống giặc” góp phần sớm kiểm soát và chiến thắng đại dịch Covid-19, thực hiện có hiệu quả “mục tiêu kép”. Chia sẻ về phong trào thi đua này, tại Hội nghị trực tuyến triển khai một số nội dung về công tác thi đua khen thưởng do Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam tổ chức hôm 6/10, ông Trần Thanh Hải – Phó Chủ tịch Thường trực Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam đề nghị các cấp công đoàn bám sát nội dung kế hoạch tổ chức phong trào thi đua “Công nhân, viên chức, lao động nỗ lực vượt khó, sáng tạo, quyết tâm chiến thắng đại dịch COVID-19” để triển khai thực hiện. Việc tổ chức phong trào thi đua không chỉ có “phát” mà nhất thiết phải “động”, phải đến và được đoàn viên công đoàn, CNVCLĐ hưởng ứng. Trao đổi phương thức thi đua hiệu quả, Phó Chủ tịch Thường trực Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam Trần Thanh Hải gợi ý về cách mở mục “Nhật ký vượt khó” để ghi nhận kịp thời những điển hình. “Trong khó khăn đơn vị nào cũng khó, cá nhân nào cũng khó nhưng đã vượt qua thế nào, thành quả ra sao mới quan trọng. Bên cạnh ghi nhận những kết quả lớn, mang lại giá trị làm lợi cao thì cần chú trọng đến những sáng kiến vì cộng đồng, sáng kiến của những người thợ, có như vậy mới phát huy tinh thần sáng tạo – là phẩm chất cao qúy của người lao động Việt Nam” – ông Trần Thanh Hải nhấn mạnh. Bày tỏ tin tưởng, với quyết tâm của toàn hệ thống, phong trào sẽ tạo nên sự đột phá và lan tỏa trong công tác phòng, chống dịch Covid-19, các ý kiến cũng đề xuất các cấp công đoàn, nhất là người đứng đầu, cần đổi mới tư duy, năng động sáng tạo, tổ chức nhiều hoạt động ý nghĩa, phù hợp với điều kiện dịch bệnh; nắm chắc và đầy đủ các chế độ, chính sách cho người lao động để chăm lo tốt hơn, kịp thời, đúng đối tượng cho người lao động; chủ động giám sát việc thực hiện chế độ, chính sách về hỗ trợ phòng, chống Covid-19; phát huy các công cụ truyền thông để tuyên truyền kịp thời các hình ảnh hoạt động của tổ chức công đoàn đến với người lao động. Sáng tạo phải được ghi nhận Thời gian qua, hệ thống công đoàn cả nước đã đồng loạt triển khai nhiều chương trình sáng tạo, thiết thực, phù hợp với vai trò của tổ chức, góp phần phòng, chống dịch và giảm thiểu tác động của dịch bệnh. Những hoạt động này không chỉ thể hiện sự chung tay với toàn hệ thống chính trị mà còn thể hiện sự đồng hành, chia sẻ kịp thời với khó khăn của người lao động và doanh nghiệp. Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam đã trao gói nhiều gói hỗ trợ trị giá gần 5 nghìn tỷ đồng đến đoàn viên công đoàn, CNVCLĐ trong khu cách ly, phong tỏa; công nhân ở các khu nhà trọ, công nhân ở các doanh nghiệp làm việc “3 tại chỗ”, “1 cung đường 2 điểm đến”; con công nhân mồ côi do COVID-19…  Hội nghị diễn ra theo hình thức trực tuyến tại các điểm cầu cả nước Những mô hình sáng tạo trong công tác phòng, chống dịch và hỗ trợ đoàn viên, người lao động của tổ chức Công đoàn tiếp tục phát huy hiệu quả, có sự đổi mới, phát triển như mô hình tổ an toàn Covid trong khu nhà trọ, tổ an toàn Covid lưu động trên xe ô tô chở công nhân của LĐLĐ tỉnh Thanh Hóa; xe buýt siêu thị 0 đồng, túi an sinh xã hội, “Vùng xanh doanh nghiệp” của LĐLĐ TP Hà Nội; túi thuốc cho F0; suất cơm nghĩa tình hỗ trợ các hộ khó khăn, lực lượng phòng, chống dịch; mô hình tư vấn sức khỏe phòng ngừa dịch bệnh Covid-19; đội tiếp ứng thực phẩm tận nhà cho đoàn viên, người lao động; Đường dây nóng “An sinh công đoàn”; mô hình đi chợ hộ cho đoàn viên; mô hình “An toàn phòng, chống dịch, an toàn sản xuất” của LĐLĐ TP Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đồng Nai; “Trao sữa yêu thương - Ấm tình công đoàn” của LĐLĐ tỉnh Long An; “Chuyến xe nghĩa tình” hỗ trợ gia đình chính sách, hộ nghèo, cận nghèo, người lao động gặp khó khăn do ảnh hưởng dịch Covid-19 của LĐLĐ tỉnh Cần Thơ… Nhiều cán bộ công đoàn đã tình nguyện và xả thân tham gia các hoạt động phòng, chống dịch; xung phong vào tâm dịch, vượt qua mọi gian khổ, nguy hiểm để sát cánh bên người lao động khó khăn. Công đoàn đã và đang làm được rất nhiều việc có ý nghĩa giúp CNVCLĐ trong bối cảnh dịch diễn biến phức tạp, được các đoàn viên công đoàn ghi nhận và dư luận đánh giá cao. Người lao động tham gia sản xuất trong khó khăn, dịch bệnh nhưng đã có nhiều sáng kiến mang lại hiệu quả, lợi ích cho doanh nghiệp; nhiều người trong số họ trong thời gian tạm thời ngừng việc đã tình nguyện tham gia hỗ trợ lực lượng tuyến đầu chống dịch, đồng thời lạc quan khích lệ tinh thần cho bạn bè, đồng nghiệp yên tâm ở lại địa phương nơi làm việc để tiếp tục lao động, sản xuất. Các cấp công đoàn đã chú trọng công tác biểu dương, khen thưởng các tập thể, cá nhân có thành tích tiêu biểu, xuất sắc trong công tác phòng, chống dịch. LĐLĐ tỉnh Bắc Giang, LĐLĐ tỉnh Bắc Ninh vinh dự được Thủ tướng Chính phủ tặng Bằng khen đã có thành tích xuất sắc, trực tiếp tham gia phòng, chống dịch Covid-19; 86 tập thể, cá nhân là cán bộ công đoàn, đoàn viên công đoàn các cấp được tặng Bằng khen của Tổng Liên đoàn, UBND tỉnh, LĐLĐ tỉnh Bắc Giang về thành tích trong công tác phòng, chống dịch Covid-19. Công đoàn Tổng công ty Hàng Hải Việt Nam khen thưởng 14 tập thể, 50 cá nhân có thành tích trong công tác phòng, chống dịch Covid-19; Công đoàn Y tế Việt Nam khen thưởng 100 tập thể và trên 600 cán bộ y tế có thành tích xuất sắc trong phòng, chống Covid-19 trong đợt 4... Các LĐLĐ TP Hà Nội, tỉnh Cần Thơ đã khen thưởng đột xuất cho các tập thể và cá nhân nỗ lực vượt khó, sáng tạo, như khen thưởng  cho mô  hình “Tổ an toàn COVID”; “Xe buýt siêu thị 0 đồng”, “Vùng xanh doanh nghiệp”… Ghi nhận sự chủ động thực hiện chính sách động viên của tổ chức công đoàn trong thực hiện phong trào thi đua, ông Trần Thanh Hải – Phó Chủ tịch Thường trực Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam nhấn mạnh, việc phát hiện tập thể, cá nhân điển hình và kịp thời khen thưởng cần được tiến hành nhiều đợt, không chờ dịch bệnh ổn mới sơ kết, tổng kết, qua đó góp phần lan tỏa để ngày càng có nhiều hơn những điển hình đó. Về tiêu chí đối với tập thể phải có cách làm mới, sáng tạo, có mô hình mới được nhân rộng hoặc có hiệu quả cao trong chỉ đạo, triển khai và thực hiện nhiệm vụ phòng, chống dịch; nắm bắt chặt chẽ tình hình tư tưởng, tâm lý và kịp thời có giải pháp ổn định đời sống, việc làm của đoàn viên, người lao động; chủ động, thực hiện tốt và rõ những công việc của công đoàn phối hợp với thủ trưởng cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp trong công tác phòng, chống dịch và tham gia có hiệu quả thực hiện các giải pháp ổn định sản xuất, kinh doanh nhằm thực hiện tốt “mục tiêu kép”. Thông tin kịp thời, chính xác, sâu sắc về hoạt động của công đoàn phối hợp thực hiện sâu sát, an toàn; chăm lo, hỗ trợ đoàn viên, người lao động và lực lượng tuyến đầu chống dịch; tuyên truyền, vận động, nâng cao nhận thức, góp phần quan trọng định hướng và tạo sự đồng thuận trong đoàn viên, người lao động thực hiện tốt các chủ trương, chính sách và quy định về phòng, chống dịch. Không có đoàn viên, CNVCLĐ vi phạm các quy định về phòng, chống dịch; không để đoàn viên, người lao động tụ tập đông người, gây mất trật tự an ninh, an toàn xã hội trên địa bàn. Kịp thời tham mưu xây dựng, sửa đổi, bổ sung các cơ chế, chính sách để huy động tất cả các nguồn lực dành cho công tác phòng, chống dịch và các cơ chế, chính sách tạo điều kiện hỗ trợ cho người lao động khó khăn và duy trì các hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, ổn định việc làm, đời sống người lao động. Đối với cá nhân, một trong những tiêu chí quan trọng là có sáng kiến, sáng tạo hiệu quả trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, nhất là những cá nhân trên tuyến đầu, những tấm gương quên mình trong công tác phòng, chống dịch; trong công tác tuyên truyền, vận động, thuyết phục đoàn viên, người lao động; trong công tác thiện nguyện, huy động xã hội hóa các nguồn lực phục vụ phòng, chống dịch; trong lao động, sản xuất an toàn, chất lượng tốt, năng suất cao. “Quy trình xét chọn cần được nghiên cứu để giảm bớt thủ tục hành chính và hạn chế thấp nhất việc gửi hồ sơ khen thưởng nhưng không đạt yêu cầu. Đối với các tập thể và cá nhân được đề xuất khen cao thì phải thật sự xứng đáng, ghi nhận được nỗ lực và phải được tập thể suy tôn” – ông Trần Thanh Hải khẳng định. Ngọc Tú      

Nâng cao hiệu quả chính sách thi đua khen thưởng trong khu vực công

Thực tiễn đã chứng minh thành tựu đạt được của chính sách thi đua, khen thưởng là đã góp phần huy động được sức mạnh đoàn kết, tổng hợp sức mạnh vật chất và tinh thần của cả dân tộc trong hai cuộc kháng chiến trường kỳ và sự nghiệp xây dựng đất nước theo định hướng XHCN. Ngày 26/8, Trường ĐH Nội vụ Hà Nội tổ chức Hội thảo khoa học "Chính sách thi đua khen thưởng trong khu vực công" theo hình thức trực tuyến. Hội thảo trực tuyến đã thu hút đông đảo các nhà khoa học, nhà quản lý, đại diện các cơ quan, đơn vị, giảng viên và các chuyên gia trong lĩnh vực chính sách thi đua khen thưởng tham dự. Trường ĐH Nội vụ Hà Nội tổ chức Hội thảo khoa học  theo hình thức trực tuyến. Ảnh: HT Phát biểu đề dẫn Hội thảo, PGS.TS. Nguyễn Quốc Sửu, Phó Hiệu trưởng Trường ĐH Nội vụ Hà Nội khẳng định: Công tác thi đua, khen thưởng có vai trò to lớn trong trong công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và phát triển đất nước. Thi đua và khen thưởng là hai nội dung có quan hệ chặt chẽ và tác động biện chứng lẫn nhau. Thi đua là động lực thúc đẩy các cá nhân, tổ chức hoàn thành tốt các nhiệm vụ, trách nhiệm được giao. Trên cơ sở đó, khen thưởng vừa là kết quả, vừa là yếu tố cổ vũ, thúc đẩy phong trào thi đua phát triển. “Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm đến công tác thi đua, khen thưởng nhằm động viên, thôi thúc và phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của mỗi cá nhân, tổ chức trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và phát triển đất nước ngày càng phồn vinh, hạnh phúc, theo đúng lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Thi đua là yêu nước, yêu nước thì phải thi đua. Và những người thi đua là những người yêu nước nhất”- PGS.TS Nguyễn Quốc Sửu nhấn mạnh. PGS.TS Nguyễn Quốc Sửu cho rằng, trong các thời kỳ lịch sử, cùng với những thăng trầm của lịch sử, Nhà nước ta đã không ngừng hoàn thiện chính sách, pháp luật về thi đua, khen thưởng; cơ cấu tổ chức bộ máy chuyên trách; đổi mới cách thức, phương pháp tổ chức thi đua, khen thưởng. Thực tiễn đã chứng minh thành tựu đạt được của chính sách thi đua, khen thưởng là đã góp phần huy động được sức mạnh đoàn kết, tổng hợp sức mạnh vật chất và tinh thần của cả dân tộc trong hai cuộc kháng chiến trường kỳ và sự nghiệp xây dựng đất nước theo định hướng XHCN. Những thành công bước đầu trong cuộc chiến phòng chống dịch COVID-19 ở nước ta trong thời gian vừa qua cũng đã chứng minh điều đó. Bên cạnh những thành tựu đạt được, theo Phó Hiệu trưởng Trường ĐH Nội vụ Hà Nội trong quá trình hoạch định, tổ chức thực thi và đánh giá chính sách thi đua, khen thưởng cũng còn bộc lộ một số hạn chế. Đặc biệt, trước tác động của mặt trái nền kinh tế thị trường trong thời kỳ hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, trong thời gian qua, hoạt động thi đua, khen thưởng có nhiều yếu tố bị mai một, bị bóp méo, thậm chí nhiều cơ quan đoàn thể, nhiều cá nhân đã lợi dụng công tác này để chạy danh hiệu, để “thổi phồng” thành tích, “đánh bóng” thương hiệu,... Những vấn đề trên có nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan từ những lỗ hổng hoặc thiếu vắng những quy định cụ thể, thiết thực, phù hợp; sự buông lỏng, thiếu trách nhiệm của một số cán bộ, cơ quan quản lý; sự thiếu phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức trong quá trình tổ chức thực thi quy trình chính sách; chất lượng đội ngũ cán bộ chuyên trách của công tác thi đua, khen thưởng chưa cao…. Do vậy, việc nghiên cứu chính sách thi đua khen thưởng trong khu vực công là cần thiết trong bối cảnh hội nhập và phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta hiện nay. Các chuyên gia, nhà quản lý, nhà khoa học thảo luận bằng hình thức trực tuyến. Ảnh: HT  Tại hội thảo trực tuyến, các chuyên gia, các nhà quản lý, các nhà khoa học đã thảo luận, tập trung làm rõ sáng tỏ hơn những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến chính sách thi đua khen thưởng; trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, các tổ chức đoàn thể trong hệ thống chính trị, của cá nhân trong thực hiện chính sách thi đua khen thưởng trong thời gian vừa qua; đánh giá những thành tựu, hạn chế trong chu trình của chính sách thi đua khen thưởng. Đồng thời, đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của chính sách cũng như chỉ ra những bài học kinh nghiệm của các cấp trong thực hiện chính sách thi đua khen thưởng trong thời gian tới. Theo dangcongsan.vn

Đại tướng, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp - Một tài năng quân sự xuất chúng, nhà lãnh đạo có uy tín lớn của cách mạng Việt Nam

TĐKT - Ngày 25/8, nhân kỷ niệm 110 năm ngày sinh Đại tướng Võ Nguyên Giáp (25/8/1911 - 25/8/2021), Bộ Quốc phòng chủ trì, phối hợp với Ban Tuyên giáo Trung ương, Văn phòng Chính phủ và Tỉnh ủy Quảng Bình tổ chức Hội thảo khoa học cấp quốc gia: “Đại tướng, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp - Một tài năng quân sự xuất chúng, nhà lãnh đạo có uy tín lớn của cách mạng Việt Nam”. Hội thảo được tổ chức theo hình thức trực tuyến tại 15 điểm cầu, với 2 điểm cầu chính là Hà Nội và Quảng Bình. Đại tướng Phan Văn Giang, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng phát biểu chỉ đạo Hội thảo. Phát biểu khai mạc Hội thảo, đồng chí Nguyễn Trọng Nghĩa, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương, Phó Trưởng Ban Chỉ đạo Hội thảo khẳng định, cuộc đời hơn 80 năm hoạt động cách mạng của Đại tướng Võ Nguyên Giáp gắn liền với những mốc son lịch sử trọng đại đánh dấu quá trình phát triển của cách mạng Việt Nam. Từ một học sinh, nhà báo, nhà giáo, nhà hoạt động cách mạng, ông đã trở thành một vị tướng kiệt xuất; một nhà chiến lược mưu trí, sáng tạo; một vị Tổng Tư lệnh văn võ song toàn; một nhà tổ chức hàng đầu của cách mạng Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh. Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương Nguyễn Trọng Nghĩa nhấn mạnh, Hội thảo là một trong những hoạt động kỷ niệm lớn, có ý nghĩa thiết thực của đất nước, quân đội trong năm 2021. Kết quả Hội thảo sẽ góp phần giáo dục truyền thống cách mạng cho cán bộ, chiến sĩ và nhân dân, đặc biệt là giúp thế hệ trẻ nâng cao tinh thần yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội và lòng tự hào, tự tôn dân tộc; xây dựng quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, xứng đáng là lực lượng nòng cốt cho toàn Đảng, toàn dân bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Phát biểu chỉ đạo hội thảo, Đại tướng Phan Văn Giang, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng khẳng định tinh thần trọn đời phấn đấu, hy sinh của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, đồng thời nhấn mạnh, trong quá trình hoạt động cách mạng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã được Đảng, Nhà nước và Quân đội tin tưởng giao phó nhiều vị trí lãnh đạo chủ chốt. Trải qua nhiều vị trí, hoạt động trên nhiều cương vị khác nhau, dù ở đâu, thực hiện nhiệm vụ gì, Đại tướng Võ Nguyên Giáp luôn là một trong những nhà lãnh đạo tiêu biểu của cách mạng Việt Nam, một tài năng quân sự xuất chúng, có những công lao to lớn đối với quá trình xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, chiến thắng oanh liệt của QĐND Việt Nam. Tên tuổi của Đại tướng đã gắn liền với những thắng lợi oanh liệt của quân đội, của dân tộc Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh, góp phần làm thay đổi dòng chảy lịch sử của đất nước và thế giới. Là tấm gương mẫu mực về đạo đức cách mạng, với tầm cao trí tuệ và tinh thần hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, Đại tướng Võ Nguyên Giáp được toàn quân, toàn dân tin yêu, mến phục, suy tôn là “Anh Cả của quân đội”, “Đại tướng của nhân dân”, “Tư lệnh của các Tư lệnh”, “Chính ủy của các Chính ủy”, “Tướng của các Tướng”, được quốc tế đánh giá là “Vị tướng của phong trào giải phóng dân tộc”. Tại Hội thảo, hơn 100 tham luận từ các đồng chí lão thành cách mạng; các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Bộ Quốc phòng, Bộ Tổng Tham mưu, Tổng cục Chính trị QĐND Việt Nam; các cơ quan, đơn vị trong và ngoài quân đội; những người có dịp tiếp xúc, làm việc với Đại tướng… đã đề cập toàn diện từ truyền thống gia đình, quê hương, cuộc đời, sự nghiệp cách mạng đến những cống hiến đặc biệt xuất sắc trên nhiều lĩnh vực của Đại tướng, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp. Những thắng lợi vĩ đại của cách mạng Việt Nam mà Đại tướng, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp có công lao đóng góp đã làm thay đổi dòng chảy lịch sử của dân tộc, tác động mạnh mẽ đến lịch sử thế giới, đưa ông trở thành danh tướng của mọi thời đại, để lại dấu son rực rỡ trong lịch sử quân sự, góp phần làm phong phú nghệ thuật quân sự Việt Nam, hình thành học thuyết quân sự Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh, để lại giá trị sâu sắc cho công cuộc xây dựng nền quốc phòng toàn dân, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Không chỉ là vị Tổng Tư lệnh tài ba, trực tiếp chỉ đạo quân và dân ta đánh thắng thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, Đại tướng Võ Nguyên Giáp còn là nhà lãnh đạo uy tín của Đảng, có những đóng góp quan trọng cho sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước. Trong thời kỳ giữ trọng trách Phó Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng (1981 - 1991), Đại tướng đã góp phần quan trọng xác định phương hướng thực hiện cách mạng khoa học - kỹ thuật một cách đúng đắn, phù hợp, với việc kết hợp những bước đi tuần tự và những bước phát triển nhảy vọt, có trọng tâm, trọng điểm, bảo đảm phục vụ kịp thời, có hiệu quả công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; chú trọng vào những khâu chủ chốt, tạo sự chuyển biến tích cực để giải quyết những vấn đề của ngành giáo dục nước nhà và nhiệm vụ cách mạng đòi hỏi; có nhiều ý kiến quan trọng, có giá trị cho Đảng và Nhà nước trong việc hoạch định đường lối, chính sách phát triển kinh tế - xã hội, góp phần xây dựng và phát triển đất nước. Cuộc đời của Đại tướng là tấm gương sáng cho toàn Đảng, toàn quân, toàn dân noi theo. Những quan điểm, lý luận về xây dựng lực lượng vũ trang, quân đội cách mạng, về chiến tranh nhân dân, quốc phòng toàn dân, về xây dựng và phát triển đất nước; những kinh nghiệm chỉ đạo, chỉ huy của Đại tướng… là tài sản vô giá cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Kết quả Hội thảo góp phần giáo dục truyền thống cách mạng cho cán bộ, chiến sĩ và nhân dân, đặc biệt là thế hệ trẻ nâng cao tinh thần yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội và lòng tự hào, tự tôn dân tộc; xây dựng QĐND Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, xứng đáng là lực lượng nòng cốt cho toàn Đảng, toàn dân bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Nguyệt Hà

Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến về Dự án Luật Thi đua, Khen thưởng (sửa đổi)

Thực hiện chương trình Phiên họp thứ 2, sáng 17/8, Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến về dự án Luật Thi đua, khen thưởng (sửa đổi). Phó Chủ tịch Thường trực Quốc hội Trần Thanh Mẫn điều hành nội dung làm việc. Bộ trưởng Bộ Nội vụ Phạm Thị Thanh Trà trình bày Tờ trình Trình bày Tờ trình tại Phiên họp, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Phạm Thị Thanh Trà cho biết, sau 17 năm thực hiện Luật Thi đua, khen thưởng, bên cạnh những kết quả đạt được, Luật còn bộc lộ một số tồn tại, hạn chế trong triển khai phong trào thi đua và công tác khen thưởng; về thủ tục, hồ sơ khen thưởng; về thủ tục hành chính, ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác thi đua, khen thưởng cần được nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung để hoàn thiện hệ thống pháp luật về thi đua, khen thưởng đáp ứng yêu cầu tình hình mới. Do đó, việc sửa đổi Luật Thi đua, khen thưởng là cần thiết. Về quan điểm sửa đổi Luật, Bộ trưởng Bộ Nội vụ cho biết, Luật sửa đổi phải đảm bảo thể chế đường lối, chủ trương của Đảng về công tác thi đua khen thưởng; Chỉ thị số 34-CT/TW, ngày 07 tháng 4 năm 2014 của Bộ Chính trị “Về tiếp tục đổi mới công tác thi đua, khen thưởng”, nâng cao trách nhiệm của các cấp ủy, tổ chức đảng và người đứng đầu trong chỉ đạo tổ chức phong trào thi đua. Tiếp tục đổi mới công tác thi đua, khen thưởng, phát huy sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc và cả hệ thống chính trị, tạo động lực to lớn góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ của từng bộ, ngành, địa phương và của đất nước trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Mục tiêu sửa đổi Luật nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật về thi đua, khen thưởng phù hợp với công cuộc đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế; thể chế hóa, cụ thể hóa các quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước, đảm bảo đồng bộ, phù hợp yêu cầu của thực tiễn. Đáp ứng yêu cầu đổi mới công tác thi đua, khen thưởng về nội dung, hình thức, phương pháp tổ chức các phong trào thi đua; phát hiện, bồi dưỡng, tổng kết và nhân điển hình tiên tiến; đề cao vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu trong việc phát hiện những điển hình tiên tiến để khen thưởng và đề nghị cấp có thẩm quyền khen thưởng; khen thưởng công nhân, nông dân, người trực tiếp lao động, sản xuất, công tác, chiến đấu; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, công nghệ số để đơn giản hóa thủ tục hành chính đảm bảo kịp thời, minh bạch, công khai, khả thi và hiệu quả trong việc thực hiện các quy định của Luật.  Chủ nhiệm Ủy ban Xã hội Nguyễn Thúy Anh báo cáo thẩm tra Thẩm tra Tờ trình, Chủ nhiệm Ủy ban Xã hội Nguyễn Thúy Anh cho biết, Thường trực Ủy ban Xã hội nhất trí sự cần thiết sửa đổi toàn diện Luật Thi đua, khen thưởng để thể chế hóa, cụ thể hóa các quan điểm chỉ đạo của Đảng về công tác thi đua, khen thưởng; khắc phục những bất cập của các quy định hiện hành; bổ sung những vấn đề mới phát sinh phù hợp với thực tiễn về công tác thi đua, khen thưởng trong tình hình mới và bảo đảm tính đồng bộ của hệ thống pháp luật Về cơ bản, Hồ sơ dự án Luật được chuẩn bị công phu, đầy đủ, đáp ứng yêu cầu của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Tuy nhiên, những nội dung sửa đổi trong dự thảo Luật chưa khắc phục một cách căn cơ những bất cập, hạn chế trong báo cáo tổng kết; vẫn còn thiếu sự liên kết giữa các báo cáo thành phần của hồ sơ. Thường trực Ủy ban Xã hội nhận thấy, còn một số hạn chế trong triển khai thực hiện các quy định về thi đua, khen thưởng nhằm biểu dương, tôn vinh các đối tượng là doanh nhân, doanh nghiệp có đóng góp vào sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Do đó, đề nghị Chính phủ, Ban soạn thảo nghiên cứu bổ sung các quy định mang tính nguyên tắc về quản lý tổ chức xét tặng danh hiệu, giải thưởng cho doanh nhân và doanh nghiệp, tạo hành lang pháp lý đầy đủ, toàn diện để thực hiện tốt công tác thi đua, khen thưởng cũng như quản lý nhà nước đối với việc tổ chức các giải thưởng tôn vinh doanh nghiệp, doanh nhân. Về việc bổ sung hình thức khen thưởng “Huy chương Thanh niên xung phong vẻ vang”, đa số ý kiến Thường trực Ủy ban Xã hội thấy rằng, chưa đủ điều kiện để bổ sung hình thức khen thưởng “Huy chương Thanh niên xung phong vẻ vang” vào dự án Luật. Thường trực Ủy ban Xã hội kiến nghị Chính phủ: cần tiếp tục rà soát, thực hiện việc khen thưởng tổng kết kháng chiến, khen thưởng xây dựng bảo vệ Tổ quốc cho Thanh niên xung phong có công lao, thành tích, cống hiến cũng như thực hiện chế độ ưu đãi theo quy định của pháp luật thi đua, khen thưởng, pháp luật về ưu đãi người có công với cách mạng, bảo đảm không đối tượng nào đủ điều kiện, tiêu chuẩn bị bỏ sót. Thường trực Ủy ban Xã hội trân trọng đề nghị Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét, cho ý kiến chỉ đạo. Về thủ tục và hồ sơ đề nghị danh hiệu thi đua và khen thưởng, Thường trực Ủy ban Xã hội ghi nhận sự nỗ lực của Chính phủ với những nội dung sửa đổi, bổ sung liên quan đến cải cách thủ tục hành chính trong thi đua, khen thưởng. Tuy nhiên, Thường trực Ủy ban Xã hội đề nghị Chính phủ: Làm rõ tuyến trình thi đua, khen thưởng đối với khu vực ngoài công lập; Thể hiện cụ thể hơn vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu trong việc phát hiện những điển hình tiên tiến để khen thưởng và đề nghị cấp có thẩm quyền khen thưởng trong các quy định của dự thảo Luật; Làm rõ vấn đề khen thưởng thành tích có nội dung bí mật Nhà nước; Nghiên cứu, sửa đổi quy định về cơ quan chủ trì trình khen thưởng đối với các đại biểu Quốc hội chuyên trách cho phù hợp với quy định của Đảng và thực tiễn công tác quản lý cán bộ hiện nay. Cho ý kiến tại Phiên họp, các thành viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội đánh giá cao Hồ sơ dự án Luật được chuẩn bị công phu, đầy đủ, đáp ứng yêu cầu của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Các nội dung sửa đổi trong công tác thi đua, khen thưởng nhằm khắc phục những bất cập của các quy định hiện hành; bổ sung những vấn đề mới phát sinh phù hợp với thực tiễn về công tác thi đua, khen thưởng. Liên quan đến nội dung bổ sung hình thức khen thưởng Huy chương Thanh niên xung phong vẻ vang, Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật Hoàng Thanh Tùng cho biết, Ban Bí thư đã đồng ý chủ trương tặng thưởng Huy chương Thanh niên xung phong vẻ vang cho thanh niên xung phong hoàn thành nhiệm vụ các thời kỳ kháng chiến, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; đồng thời đề nghị Ban cán sự đảng Chính phủ khẩn trương chỉ đạo Chính phủ nghiên cứu, đề xuất Quốc hội sửa đổi, bổ sung Luật Thi đua, khen thưởng cho phù hợp tình hình mới, trong đó có nội dung khen thưởng huy chương cho thanh niên xung phong nói trên. Do đó, nếu cần thiết thì có thể thiết kế hai phương án để xin ý kiến Quốc hội về nội dung này. Đồng thời đề nghị Chính phủ cũng làm rõ các tiêu chuẩn xét tặng để tránh trùng lặp, đối tượng xét tặng phải cụ thể rõ ràng để đảm bảo sự công bằng. Tổng Thư ký Quốc hội, Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội Bùi Văn Cường phát biểu Về vấn đề khen thưởng cho đại biểu Quốc hội, Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Khắc Định, Tổng Thư ký Quốc hội, Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội Bùi Văn Cường và một số thành viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho rằng, các đại biểu Quốc hội, các Ủy ban của Quốc hội, các cơ quan của Ủy ban Thường vụ Quốc hội đang xếp ngoài quy định của Luật Thi đua, khen thưởng. Đây là một trong vướng mắc nhiều năm của thực tiễn. Do đó, đề nghị nghiên cứu bổ sung các quy định điều chỉnh nội dung này; đồng thời làm rõ vai trò của Ủy ban Thường vụ Quốc hội trong việc tổ chức phong trào thi đua, quyết định các vấn đề về khen thưởng; quy định nào đặc thù… Cho ý kiến tại Phiên họp, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ đánh giá cao Bộ Nội vụ đã có sự chuẩn bị Hồ sơ dự án Luật chu đáo; Ủy ban Xã hội đã có báo cáo thẩm tra đầy đặn, tiếp thu nhiều ý kiến chất lượng. Nhấn mạnh đây là một trong những sản phẩm đầu tay của Quốc hội khóa XV, Chủ tịch Quốc hội đề nghị cơ quan trình và cơ quan thẩm tra phải tiếp tục nghiên cứu kỹ lưỡng thêm. Để khắc phục được những tồn tại hạn chế, sau khi Luật ban hành sẽ tạo được những bước chuyển căn bản, Chủ tịch Quốc hội nhấn mạnh, Luật sửa đổi lần này cần khắc phục bệnh thành tích; công khai, minh bạch; bao quát, không để khoảng trống, đảm bảo sự bình đẳng trong các cơ quan, tổ chức chinh trị; khắc phục tình trạng chồng chéo, thận trọng đối với những vấn đề bổ sung mới. Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ cho ý kiến Tiếp thu những ý kiến góp ý của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Bộ trưởng Bộ Nội vụ trân trọng cảm ơn những ý kiến tâm huyết, xác đáng của các thành viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Cơ quan soạn thảo sẽ phối hợp với cơ quan thẩm tra, nghiên cứu, hoàn thiện, làm rõ thêm nhiều nội dung để đảm bảo Luật sửa đổi có tính căn cơ, khoa học, toàn diện, khắc phục được những tồn tại trong thực tiễn thời gian qua. Kết luận môt số nội dung làm việc, Phó Chủ tịch Thường trực Quốc hội Trần Thanh Mẫn nêu rõ, qua thảo luận, Ủy ban Thường vụ Quốc hội nhất trí sự cần thiết xây dựng dự án Luật; đề nghị Chính phủ tiếp tục đánh giá đầy đủ từng vấn đề còn vướng mắc, chưa phù hợp để có định hướng sửa đổi cho trúng, cho đúng, cho toàn diện; bổ sung thêm nội dung các báo cáo thành phần. Phạm vi sửa đổi Luật cần lưu ý ý kiến chỉ đạo của Chủ tịch Quốc hội; đảm bảo khái quát được vấn đề thi đua, khen thưởng của cả hệ thống chính trị và của toàn xã hội, tránh chồng chéo, hình thức; các danh hiệu thi đua cần xem xét kỹ, đảm bảo mối liên hệ giữa các cơ quan, tổ chức chính trị, khu vực ngoài nhà nước; xin ý kiến cấp có thẩm quyền việc bổ sung Huy chương Thanh niên xung phong vẻ vang trước khi trình Quốc hội cho ý kiến. Phó Chủ tịch Thường trực Quốc hội Trần Thanh Mẫn kết luận nội dung làm việc Đối với cơ quan thẩm tra, Phó Chủ tịch Thường trực Quốc hội đề nghị Ủy ban Xã hội tiếp tục thẩm tra dự án Luật này; chủ động phối hợp các cơ quan có liên quan tiếp thu thấu đáo ý kiến của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; tổ chức các hội thảo, tọa đàm; phối hợp với Mặt trận tổ quốc Việt Nam để lấy ý kiến rộng rãi; nếu cần thiết có thể báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội tổ chức Hội nghị đại biểu Quốc hội chuyên trách hoặc hình thức phù hợp để góp ý đối với dự án Luật quan trọng này. Đối với cơ quan soạn thảo, Phó Chủ tịch Thường trực Quốc hội đề nghị cần nghiên cứu tiếp thu ý kiến chỉ đạo của Chủ tịch Quốc hội, các ý kiến của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, cơ quan thẩm tra và các cơ quan có liên quan; hoàn thiện Hồ sơ để trình lại Ủy ban thường vụ Quốc hội. Nếu cần thiêt, Ủy ban Thường vụ Quốc hội sẽ nghe Chính phủ báo cáo lại trước khi trình ra Quốc hội cho ý kiến tại Kỳ hợp thứ hai, Quốc hội khóa XV vào tháng 10 tới đây./. Theo  quochoi.vn

Tọa đàm khoa học “Đồng chí Võ Nguyên Giáp – Người kiến tạo nền móng cho quá trình phát triển của ngành Tổ chức nhà nước (1945 - 1946)”

Sáng nay 16/8/2021, Học viện Hành chính Quốc gia, Bộ Nội vụ tổ chức trực tuyến Tọa đàm khoa học “Đồng chí Võ Nguyên Giáp – Người kiến tạo nền móng cho quá trình phát triển của ngành Tổ chức nhà nước (1945 – 1946)”. TS Đặng Xuân Hoan, Giám đốc Học viện Hành chính Quốc gia chủ trì buổi Tọa đàm. Tham dự Tọa đàm có các đồng chí: Vũ Đăng Minh, Chánh Văn phòng Bộ; Nguyễn Hữu Tuấn, Vụ trưởng Vụ Tổ chức cán bộ; Trần Nghị, Tổng Biên tập Tạp chí Tổ chức nhà nước; Nguyễn Ngọc Vân, Viện trưởng Viện Khoa học tổ chức nhà nước; các đồng chí trong Ban Giám đốc Học viện Hành chính Quốc gia và đại diện lãnh đạo các đơn vị thuộc Học viện, cùng nhiều chuyên gia, nhà khoa học, quản lý trong nước. Giám đốc Học viện Hành chính Quốc gia Đặng Xuân Hoan phát biểu đề dẫn Tọa đàm. Phát biểu đề dẫn Tọa đàm, Giám đốc Học viện Hành chính Quốc gia Đặng Xuân Hoan nhấn mạnh, Tọa đàm khoa học nhằm làm rõ những công lao và cống hiến của Đại tướng Võ Nguyên Giáp đối với Đảng, dân tộc và cách mạng Việt Nam. Đây là dịp để các nhà nghiên cứu và hoạt động thực tiễn cùng nhau trao đổi về cuộc đời và sự nghiệp, tấm gương đạo đức cách mạng trong sáng của một chiến sĩ cộng sản đã dâng hiến trọn đời mình cho Đảng, cho dân tộc. Thiết thực góp phần vào công tác giáo dục truyền thống cách mạng, bồi dưỡng lập trường tư tưởng, đạo đức cách mạng, lối sống cho cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân. Các đại biểu tham dự Tọa đàm tại các điểm cầu trực tuyến Với hơn 10 tham luận cùng nhiều ý kiến đóng góp của các đại biểu tham dự, Tọa đàm đã làm nổi bật nhiều nội dung trọng yếu, phác họa một cách đầy đủ nhất về con người, cuộc đời, sự nghiệp và những cống hiến của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, bao gồm: các nhân tố khách quan và chủ quan hình thành nên Người cộng sản kiên cường Võ Nguyên Giáp; cuộc đời hoạt động và sự nghiệp lẫy lừng của Đại tướng, cùng những cống hiến xuất sắc đối với việc kiến tạo nền móng cho quá trình hình thành và phát triển của ngành Tổ chức nhà nước. TS Trần Thị Bích Lan, Ban Tổ chức cán bộ (Học viện Hành chính Quốc gia) trình bày tham luận tại Tọa đàm. Đại tướng Võ Nguyên Giáp với 103 năm tuổi đời, hơn 80 năm hoạt động cách mạng và hơn 70 năm tuổi Đảng “đã có nhiều công lao to lớn và cống hiến đặc biệt xuất sắc đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng ta, dân tộc ta”. Đại tướng được biết đến là một thiên tài quân sự lỗi lạc của dân tộc Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh, người “Anh cả của Quân đội nhân dân Việt Nam”, “vị tướng của nhân dân” và là một vị tướng huyền thoại, một thiên tài quân sự vĩ đại của thế kỷ XX , được nhiều chính khách, tướng lĩnh và nhà nghiên cứu, bạn bè quốc tế kính trọng, nể phục. Vì thế, nhắc tới Đại tướng Võ Nguyên Giáp, không chỉ người dân Việt Nam mà cả thế giới biết đến một vị tướng tài ba, lỗi lạc. Tuy nhiên, ít ai biết rằng Ông đã có những hoạt động và cống hiến to lớn trong việc khởi tạo nền móng cho quá trình phát triển ngành Tổ chức nhà nước khi đảm nhiệm cương vị là Bộ trưởng Bộ Nội vụ đầu tiên của Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam) giai đoạn 1945 - 1946. Đại tướng Võ Nguyên Giáp sinh ngày 25/8/1911 trong một gia đình nhà nho đức độ tại xã Lộc Thủy, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình, kỷ niệm 110 năm (25/8/1911-25/8/2021) Ngày sinh vị Tướng tài ba của dân tộc Việt Nam, thông qua những tài liệu lưu trữ lịch sử, chúng ta cùng nhau ôn lại một thời kỳ, một giai đoạn mà vị Bộ trưởng Bộ Nội vụ đầu tiên của Việt Nam đã đóng góp cho dân tộc, cho đất nước, đặt nền móng cho ngành Nội vụ: Củng cố, xây dựng chính quyền, xây dựng đất nước; bảo vệ thành quả cách mạng, góp phần làm cho đất nước ta “Đàng hoàng hơn, to đẹp hơn” và hôm nay đang vững bước trên con đường hội nhập và phát triển. TS Trần Nghị, Tổng Biên tập Tạp chí Tổ chức nhà nước phát biểu tại Tọa đàm. TS Nguyễn Quang Vinh, Tổng Biên tập Tạp chí Quản lý nhà nước phát biểu tại Tọa đàm. Cách mạng Tháng Tám thành công đã mở ra một thời kỳ mới cho dân tộc. Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được thành lập do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu. Trong nội các của Chính phủ lâm thời có 13 bộ và Bộ Nội vụ là một trong số đó, người được giao trọng trách làm Bộ trưởng đầu tiên của Bộ Nội vụ là đồng chí Võ Nguyên Giáp, đồng chí đã nhận trách nhiệm trước Chính phủ và Nhân dân, gánh trên vai trách nhiệm nặng nề là lo việc nội trị của đất nước khi mới 34 tuổi, cuộc đời và sự nghiệp của Bộ trưởng đầu tiên của Bộ Nội vụ gắn liền với những dấu ấn lịch sử quan trọng của đất nước từ khi thành lập Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, hình ảnh của Bộ trưởng Võ Nguyên Giáp là tấm gương sáng, mẫu mực, đức độ, một nhân cách lớn, hết lòng vì nước, vì dân, những đóng góp, cống hiến của đồng chí là vô cùng quan trọng cho sự nghiệp cách mạng, đặt nền móng cho việc xây dựng ngành Tổ chức nhà nước, công tác chính quyền dân chủ nhân dân, đặc biệt là công tác cán bộ và tổ chức cán bộ trong giai đoạn hiện nay ở Việt Nam. Ngay sau khi đảm nhận trọng trách quan trọng nhất của Bộ Nội vụ, đáp lại sự tin tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Bộ trưởng Võ Nguyên Giáp đã đem hết tài năng, trí tuệ và tâm huyết, tích cực tham mưu cho Chính phủ ban hành nhiều sắc lệnh có tính chất pháp quy ở nhiều lĩnh vực khác nhau để quản lý, điều hành đất nước, như xoá bỏ các chính sách của bộ máy chính quyền thực dân phong kiến, giải tán các tổ chức chính trị phản động; bỏ thuế thân; tổ chức hệ thống các cơ quan của chính quyền mới; đảm bảo an ninh chính trị, trật tự trị an, bảo vệ vững chắc chính quyền dân chủ nhân dân và thành quả cách mạng. Đặc biệt, được sự tin tưởng, tín nhiệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng chí Võ Nguyên Giáp là người duy nhất trong Chính phủ lâm thời được phép thay mặt Chủ tịch Chính phủ lâm thời với danh nghĩa là Bộ trưởng Bộ Nội vụ trực tiếp ký nhiều sắc lệnh quan trọng để kịp thời hướng dẫn, quản lý, điều hành đất nước. PGS.TS Đỗ Xuân Tuất, Phó Viện trưởng Viện Hồ Chí Minh và các lãnh tụ của Đảng trình bày tham luận tại Tọa đàm. PGS.TS Nguyễn Văn Hậu, Chánh Văn phòng Học viện Hành chính Quốc gia trình bày tham luận tại Tọa đàm. Theo thống kê, mặc dù trên cương vị người đứng đầu Bộ Nội vụ trong khoảng 06 tháng (từ ngày 28/8/1945 đến ngày 02/3/1946), song đồng chí Võ Nguyên Giáp đã tham mưu cho Chính phủ ban hành khoảng 100 sắc lệnh, trong đó đồng chí thay mặt cho Chủ tịch Chính phủ trực tiếp ký 30 sắc lệnh. Đây chính là minh chứng sinh động, cụ thể cho vai trò đặc biệt quan trọng của Bộ trưởng Bộ Nội vụ trong Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Các sắc lệnh của Bộ trưởng Bộ Nội vụ Võ Nguyên Giáp đã mang lại nhiều lợi ích cho một đất nước còn non trẻ. Thực tế đã cho thấy sự cần thiết và tính đúng đắn từ chủ trương đến hướng dẫn thực hiện, tổ chức, xây dựng, củng cố hệ thống chính quyền các cấp, bảo đảm an ninh chính trị, trật tự xã hội, vấn đề giáo dục, tôn giáo, xã hội mà các sắc lệnh đã ban hành. Những đóng góp to lớn ấy của Bộ trưởng Bộ Nội vụ Võ Nguyên Giáp đã đặt nền móng và để lại nhiều giá trị đến hôm nay cho nền công vụ, công chức phục vụ Nhân dân. Mặc dù giữ cương vị người đứng đầu Bộ Nội vụ trong thời gian không dài, song với tài năng, trí tuệ, tâm huyết và tầm nhìn chiến lược của nhà lãnh đạo tài ba, đồng chí Võ Nguyên Giáp đã giải quyết một khối lượng công việc là rất đồ sộ, những vấn đề quan trọng có ý nghĩa nền tảng, then chốt về bộ máy hành chính và tổ chức nhân sự, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của một nhà nước non trẻ lúc bấy giờ. Đặc biệt, đồng chí đã tham mưu, chỉ đạo xây dựng trình Chính phủ ban hành một loạt các sắc lệnh quan trọng, tạo cơ sở pháp lý để tổ chức bộ máy nhà nước, tổ chức chính quyền từ Trung ương đến địa phương, xây dựng đội ngũ công chức, chế độ công vụ và quản lý điều hành đất nước theo chính thể Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Những hoạt động và cống hiến to lớn của đồng chí Võ Nguyên Giáp trên cương vị Bộ trưởng Bộ Nội vụ thời kỳ 1945 - 1946 đã được Đảng, Nhà nước và Nhân dân ghi nhận, tôn vinh. Tấm gương tận tụy, cống hiến hết mình vì Tổ quốc, vì Nhân dân của đồng chí sẽ mãi là tấm gương để cán bộ, công chức, viên chức, Nhân dân và các thế hệ trẻ Việt Nam học tập, phấn đấu noi theo./. Theo tcnn.vn

Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ làm việc với các Ủy ban của Quốc hội về tiến độ các dự án luật: Thay đổi tư duy, chuẩn bị từ sớm

Ngày 13/8, tại Nhà Quốc hội, Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ chủ trì buổi làm việc với Thường trực Ủy ban Xã hội, Thường trực Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thường trực Ủy ban Quốc phòng và An ninh và Thường trực Ủy ban Tư pháp về tiến độ, chất lượng các dự án Luật sẽ được trình Quốc hội cho ý kiến tại Kỳ họp thứ Hai, Quốc hội Khóa XV. Tham dự buổi làm việc còn có Phó Chủ tịch Thường trực Quốc hội Trần Thanh Mẫn, Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Khắc Định, Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Đức Hải, Phó Chủ tịch Quốc hội Trần Quang Phương cùng Chủ nhiệm các Ủy ban của Quốc hội, đại diện thường trực các Ủy ban của Quốc hội chủ trì thẩm tra các dự án luật. Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ chủ trì buổi làm việc với Thường trực các Ủy ban của Quốc hội  Đây là cuộc làm việc đầu tiên của Lãnh đạo Quốc hội với Thường trực các Ủy ban của Quốc hội Khóa XV nhằm xem xét cụ thể các vấn đề liên quan đến từng dự án Luật sẽ được trình Quốc hội tại Kỳ họp thứ Hai tới. Cụ thể, tại Kỳ họp tới, Quốc hội sẽ cho ý kiến đối với 7 dự án Luật gồm: dự án Luật Thi đua, khen thưởng (sửa đổi); dự án Luật Điện ảnh (sửa đổi); dự án Luật Cảnh sát cơ động; dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự; dự án Luật Kinh doanh bảo hiểm (sửa đổi); dự án Luật sửa đổi, bổ sung Phụ lục – danh mục chỉ tiêu thống kê quốc gia của Luật Thống kê; dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ.  Phát biểu tại cuộc làm việc, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ nhấn mạnh, đây là những dự án luật đầu tiên trong chương trình lập pháp của Quốc hội Khóa XV, do đó, việc rà soát, bảo đảm chất lượng chuẩn bị các dự luật này chính là thực hiện lời hứa của Quốc hội về siết chặt kỷ luật, kỷ cương lập pháp, nâng cao chất lượng xây dựng pháp luật, bảo đảm tính công khai, minh bạch và tính thống nhất của hệ thống pháp luật.  Với 6/7 dự án Luật là sửa đổi, bổ sung một số điều hoặc sửa đổi toàn diện, chỉ có 1 dự án Luật được xây dựng mới hoàn toàn, Chủ tịch Quốc hội lưu ý, mỗi lần sửa đổi, bổ sung luật là cơ hội để khắc phục những vướng mắc, bất cập, hạn chế như tình trạng "luật vừa sửa xong đã không đáp ứng được yêu cầu, luật chồng chéo, thiếu khả thi, đời sống pháp luật thì ngắn". Vì vậy, cần phải tập trung đánh giá, sửa đổi thật căn cơ, bảo đảm cao nhất chất lượng dự án luật. Theo Chủ tịch Quốc hội, kinh nghiệm các kỳ họp vừa qua cho thấy: muốn rút ngắn thời gian nâng cao chất lượng hoạt động của Quốc hội thì không có cách gì tốt hơn là phải chuẩn bị từ sớm, kỹ lưỡng các nội dung trình. Chủ tịch Quốc hội nhấn mạnh, phải có cách làm khác đi, phù hợp hơn nữa với thực tiễn thì mới đáp ứng được yêu cầu cuộc sống. Do đó, lãnh đạo Quốc hội chủ trương làm việc với các Ủy ban của Quốc hội để rà soát quá trình chuẩn bị, kiểm tra tiến độ, chất lượng các dự án Luật, lưu ý một số vấn đề và định hướng các nội dung để bảo đảm dự án luật trình ra Quốc hội là Dự thảo tốt nhất. Trên cơ sở chuẩn bị của các cơ quan trình và báo cáo thẩm tra của các Ủy ban của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội sẽ xem xét, quyết định việc có triệu tập Hội nghị đại biểu Quốc hội chuyên trách để thảo luận về các dự án luật này hay không, Chủ tịch Quốc hội cũng lưu ý Tổng Thư ký Quốc hội và các Ủy ban của Quốc hội phải xác định rõ các nội dung báo cáo Quốc hội thảo luận tại phiên họp tổ, phiên họp toàn thể để tập trung vào các vấn đề lớn, căn cơ về chính sách, về tính công khai, minh bạch, tính khả thi, thống nhất của dự luật với hệ thống pháp luật, còn những vấn đề thuộc về kỹ thuật lập pháp có thể xử lý bằng việc đóng góp ý kiến bằng văn bản để hoàn thiện. Với cách làm như vậy, Chủ tịch Quốc hội cho rằng, sẽ đáp ứng được yêu cầu vừa bảo đảm chất lượng công tác xây dựng luật vừa rút ngắn được thời gian làm việc của Quốc hội.  Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ phát biểu chỉ đạo tại buổi làm việc Trong phiên họp buổi sáng Thường trực Ủy ban Xã hội báo cáo về tiến độ, chất lượng chuẩn bị dự án Luật Thi đua, khen thưởng (sửa đổi); Thường trực Ủy ban Văn hóa, Giáo dục báo cáo về tiến độ, chất lượng chuẩn bị dự án Luật Điện ảnh (sửa đổi); Thường trực Ủy ban Quốc phòng và An ninh báo cáo về tiến độ, chất lượng chuẩn bị dự án Luật Cảnh sát cơ động; Thường trực Ủy ban Tư pháp báo cáo về tiến độ, chất lượng chuẩn bị dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự.  Qua nghe báo cáo tiến độ, một số vấn đề lớn của các dự án luật và thảo luận tại buổi làm việc, Chủ tịch Quốc hội đánh giá cao sự chuẩn bị của các Ủy ban trong việc chủ động theo dõi nắm tình hình soạn thảo và cho ý kiến về các nội dung của dự thảo luật. Chủ tịch Quốc hội đề nghị các Ủy ban tiếp tục phối hợp với Viện Nghiên cứu Lập pháp của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Ủy ban Pháp luật, cơ quan chủ trì soạn thảo và các cơ quan, tổ chức hữu quan để rà soát, lấy ý kiến rộng rãi của các đối tượng chịu sự tác động, chuyên gia, nhà khoa học, tổng kết thực tiễn thi hành, đánh giá tác động …trên cơ sở đó hoàn thiện các báo cáo thẩm tra. Chủ tịch Quốc hội nhấn mạnh, nhân cơ hội sửa luật thì phải đặt ra vấn đề hết sức thấu đáo nhằm giải quyết những vấn đề phát sinh, tạo sự chuyển biến tích cực trên thực tế, đáp ứng mục tiêu yêu cầu của phát triển. Chủ nhiệm Ủy ban Xã hội Nguyễn Thúy Anh báo cáo tiến độ chuẩn bị và một số vấn đề lớn của dự án Luật Thi đua, khen thưởng (sửa đổi) Đối với dự án Luật Thi đua, khen thưởng (sửa đổi), Chủ tịch Quốc hội đề nghị bên cạnh các nội dung Chính phủ trình, Ủy ban Xã hội cần rà soát, đánh giá thực tiễn triển khai thi hành Luật hiện hành, đối chiếu với tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề này, chủ trương của Đảng về công tác thi đua khen thưởng…thấy được những gì chưa làm được, những gì còn bất cập, hạn chế để xác định phạm vi điều chỉnh và nội dung sửa đổi, bổ sung. Chủ tịch Quốc hội đề nghị trong quá trình sửa đổi luật này cần làm rõ mục tiêu của thi đua, khen thưởng, mối quan hệ giữa thi đua và khen thưởng, nguyên tắc, tiêu chuẩn danh hiệu thi đua; rà soát các quy định về thẩm quyền trao thưởng, phát động thi đua, hồ sơ, trình tự…để sửa đổi theo hướng khắc phục bệnh thành tích, nặng về tính tích lũy gối đầu, chưa quan tâm kịp thời đến khen thưởng đúng người đúng thời điểm, bảo đảm công bằng, công khai, minh bạch; đồng thời quan tâm đến các giải thưởng trong khu vực tư. Chủ tịch Quốc hội kỳ vọng, thông qua lần sửa đổi luật lần này các vấn đề được xem xét thấu đáo, thi đua khen thưởng được thực hiện thực chất, đúng, trúng sẽ tạo động lực, chuyển biến lớn trong toàn xã hội, nếu làm không đến nơi thì luật sẽ không đi vào cuộc sống. Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, Giáo dục Nguyễn Đắc Vinh báo cáo về một số vấn đề của dự án Luật Điện ảnh (sửa đổi) Đối với dự án Luật Điện ảnh (sửa đổi), Chủ tịch Quốc hội đánh giá cao sự chuẩn bị của Ủy ban Văn hóa, Giáo dục mặc dù chưa có hồ sơ chính thức từ Chính phủ nhưng Ủy ban đã chủ động, sớm có ý kiến nghiên cứu phục vụ công tác thẩm tra một cách chi tiết, kỹ lưỡng. Chủ tịch Quốc hội bày tỏ tin tưởng với cách làm như hiện nay sẽ bảo đảm được chất lượng trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến và trình Quốc hội xem xét, thảo luận. Ghi nhận dự thảo luật lần này có nhiều nội dung tiến bộ phù hợp với tình hình mới khi công nghệ phát triển và hội nhập quốc tế, song Chủ tịch Quốc hội đề nghị làm rõ nội hàm các chính sách. Chủ tịch Quốc hội lưu ý, điện ảnh trước hết là một loại hình văn hóa nghệ thuật, do đó, điện ảnh muốn phát triển theo hướng nào thì đều phải bảo đảm  xây dựng một nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc mà Nghị quyết Đại hội Đảng đã đề ra. Mặt khác, điện ảnh còn là một loại hình công nghiệp văn hóa, khi đó phải ứng xử, thúc đẩy sự phát triển của điện ảnh với tư cách là một ngành kinh tế, tuân theo các quy luật thị trường. Dự án Luật Điện ảnh (sửa đổi) phải bám sát, cụ thể hóa các yêu cầu này.  Chủ tịch Quốc hội cũng nhấn mạnh yêu cầu về thúc đẩy nền điện ảnh hội nhập quốc tế và phát triển thị trường điện ảnh trong nước; đồng thời rà soát các quy định dễ gây xung đột giữa quản lý nhà nước với hoạt động doanh nghiệp như cấp phép, kiểm định, tiền kiểm, hậu kiểm, cho xuất khẩu/nhập khẩu, phát hành phim… Cần hết sức nghiên cứu ý kiến đóng góp của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, tham vấn ý kiến của Hiệp hội có liên quan về dự án Luật. Kiến nghị nào hợp lý, thỏa đáng thì cần yêu cầu cơ quan chủ trì soạn thảo tiếp thu tối đa, không để vấn đề lợi ích chi phối.  Đối với dự án Luật Cảnh sát cơ động, Chủ tịch Quốc hội đánh giá cao quá trình chuẩn bị của Thường trực Ủy ban Quốc phòng và An ninh; đồng thời, đề nghị cơ quan chủ trì thẩm tra yêu cầu cơ quan soạn thảo tiếp tục hoàn thiện hồ sơ dự án Luật, bổ sung đầy đủ các văn bản còn thiếu như dự thảo quy định chi tiết hướng dẫn thi hành, báo cáo đánh giá kinh nghiệm quốc tế, báo cáo đánh giá tác động... để trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội tại Phiên họp tháng 9/2021.  Trong quá trình thẩm tra, Chủ tịch Quốc hội đề nghị Thường trực Ủy ban Quốc phòng và An ninh tập trung làm rõ sự cần thiết nâng Pháp lệnh Cảnh sát cơ động thành Luật Cảnh sát cơ động; làm rõ cơ sở pháp lý, chính trị, thực tiễn, sự phù hợp, thống nhất, đồng bộ của dự luật trong hệ thống pháp luật; chỉ rõ những vấn đề đặc thù cần quy định ngay trong luật này và những vấn đề chung về lực lượng cảnh sát, công an được quy định trong Luật Công an nhân dân, mối quan hệ giữa lực lượng cảnh sát cơ động với các lực lượng khác của công an nhân dân. Phó Chủ tịch Quốc hội Trần Quang Phương cho ý kiến về dự án Luật Cảnh sát cơ động Đối với dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, Chủ tịch Quốc hội thống nhất với quan điểm của Thường trực Ủy ban Tư pháp về phạm vi sửa đổi, bổ sung nhằm thực hiện cam kết trong Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), không nên mở rộng sửa đổi các nội dung ngoài cam kết khi chưa đánh giá được tác động. Ngoài ra, để thực hiện cam kết với CPTPP thì cùng với sửa đổi Luật, còn phải chuẩn bị các điều kiện cần thiết về đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ điều tra, kiểm sát, tòa án… chuyên sâu về lĩnh vực này.  Theo chương trình làm việc, chiều cùng ngày, Chủ tịch Quốc hội sẽ nghe Thường trực Ủy ban Kinh tế báo cáo về tiến độ, chất lượng chuẩn bị dự án Luật Kinh doanh bảo hiểm (sửa đổi) và dự án Luật sửa đổi, bổ sung Phụ lục – danh mục chỉ tiêu thống kê quốc gia của Luật Thống kê; Thường trực Ủy ban Pháp luật báo cáo về tiến độ, chất lượng chuẩn bị chuẩn bị dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ./. Theo quochoi.vn

Bộ trưởng Bộ Nội vụ Võ Nguyên Giáp - người tham gia xây dựng nền hành chính vì hạnh phúc của người dân Việt Nam

Cách đây 110 năm, quê hương Quảng Bình với vị mặn mòi của biển cả, cái nắng chói chang của những cồn cát và truyền thống trung dũng, kiên cường của nhân dân nơi đây đã hun đúc, sinh ra Võ Nguyên Giáp - Anh Văn - Đại tướng Võ Nguyên Giáp kính mến của chúng ta - người học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh - vị Đại tướng tài ba của Quân đội nhân dân Việt Nam và Nhân dân Việt Nam anh hùng - vị Bộ trưởng đầu tiên của Bộ Nội vụ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Nhân dịp kỷ niệm 76 năm Ngày thành lập Bộ Nội vụ (28/8/1945 - 28/8/2021) và 110 năm Ngày sinh Đại tướng Võ Nguyên Giáp (25/8/1911 - 25/8/2021) - vị Bộ trưởng đầu tiên của Bộ Nội vụ, đồng chí Phạm Thị Thanh Trà - Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Phó Trưởng ban Ban Tổ chức Trung ương, Bộ trưởng Bộ Nội vụ có bài viết quan trọng về những cống hiến của Bộ trưởng Bộ Nội vụ Võ Nguyên Giáp - người tham gia đặt nền móng xây dựng nền hành chính vì hạnh phúc của người dân Việt Nam. Xin trân trọng giới thiệu bài viết của Bộ trưởng Phạm Thị Thanh Trà. Biên niên sử cuộc đời và sự nghiệp, tấm gương mẫu mực, đức độ và nhân cách lớn, sáng ngời, cả một đời vì nước, vì dân của Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã được giới sử gia, các học giả, nhà nghiên cứu trong nước và ngoài nước đề cập, phân tích, đánh giá rất nhiều; mà tựu trung, như bài xã luận đăng trên Báo EL Moudjahd của Algerie (số ra ngày 04/01/1976) đã nhấn mạnh: “Tướng Giáp còn hơn một anh hùng. Ông thuộc dòng các chiến sĩ mà người ta sẽ kể chiến công từ thế hệ này sang thế hệ khác. Có lẽ ngay cả các nhà sử học cũng cần rất nhiều luận chứng để tránh miêu tả ông như một nhân vật truyền thuyết để kể lại đầy đủ những giá trị của ông”(1). Bộ trưởng Bộ Nội vụ Võ Nguyên Giáp (đứng hàng đầu, ngoài cùng bên trái) và Chủ tịch Hồ Chí Minh (hàng đầu, đứng giữa) trong lần ra mắt Chính phủ Cách mạng lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, tháng 9/1945. Ảnh: Tư liệu Ngược dòng lịch sử cách đây 76 năm, cuộc Tổng khởi nghĩa của Mặt trận Việt Minh trên khắp cả nước đã thu được thắng lợi hoàn toàn, giành chính quyền về tay nhân dân. Ngày 28/8/1945, theo đề nghị của Lãnh tụ Hồ Chí Minh, Ủy ban Dân tộc Giải phóng Việt Nam đã tự cải tổ thành Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa với cơ cấu gồm 13 Bộ, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đồng chí Võ Nguyên Giáp được Chủ tịch Hồ Chí Minh tin cậy giao giữ trọng trách Bộ trưởng Bộ Nội vụ kiêm Bí thư Đảng đoàn Chính phủ, đặc trách quân sự, trực tiếp lãnh đạo Bộ Nội vụ và công việc tổ chức chính quyền, an ninh, nội trị trong những ngày tháng đầu khi nước ta mới giành được độc lập. Ngay khi nhận trọng trách, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Võ Nguyên Giáp đã bắt tay ngay vào những nhiệm vụ trọng yếu của quốc gia - tham gia xây dựng các thể chế cho nền hành chính dân chủ và pháp quyền, xây dựng tổ chức bộ máy nhà nước từ Trung ương đến địa phương với mục tiêu cao cả là vì cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc của người dân. Không phụ sự ủy thác, tin cậy và giao phó của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Bộ trưởng Võ Nguyên Giáp đã hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ tưởng chừng “bất khả thi” trong những ngày đầu tiên của chính quyền dân chủ nhân dân non trẻ, lại ở tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”. NHỮNG VIÊN GẠCH ĐẦU TIÊN XÂY DỰNG NỀN MÓNG CHO NỀN HÀNH CHÍNH VÌ HẠNH PHÚC CỦA NGƯỜI DÂN VIỆT NAM Dù chỉ giữ trọng trách Bộ trưởng Bộ Nội vụ đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong khoảng thời gian hơn 6 tháng (từ ngày 28/8/1945 đến ngày 02/3/1946) nhưng Bộ trưởng Võ Nguyên Giáp đã có công lao to lớn trong việc tham gia xây dựng thể chế hành chính, tổ chức bộ máy nhà nước dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trong khoảng thời gian ngắn này, Ông đã kịp tham mưu cho Chính phủ ban hành trên 100 sắc lệnh, trong đó có khoảng 30 sắc lệnh do chính Ông ký, có tính chất pháp quy hành chính trên nhiều ngành/lĩnh vực. Với khối lượng công việc đồ sộ trong khoảng thời gian ngắn mà đồng chí Võ Nguyên Giáp đã làm khi đó, chúng ta có thể tự hào khẳng định rằng, dưới sự chỉ đạo, dẫn dắt, tín nhiệm và giao phó của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Võ Nguyên Giáp chính là người đã tham gia đặt những viên gạch đầu tiên cho việc xây dựng nền hành chính vì hạnh phúc của người dân Việt Nam! Tổ chức thành công cuộc Tổng tuyển cử bầu ra Quốc hội khóa I  Đối với chính thể dân chủ cộng hòa, sau khi ra đời, một trong những công việc trọng đại đầu tiên nhất thiết phải làm là tổ chức Tổng tuyển cử để bầu ra Quốc hội - cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, thay mặt cử tri cả nước thực hiện chức năng lập hiến, lập pháp, quyết định những vấn đề trọng đại của đất nước. Ngày 02/9/1945, ngay sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh trịnh trọng đọc bản Tuyên ngôn Độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Võ Nguyên Giáp đã có bài diễn văn quan trọng nêu rõ tầm vóc lịch sử của cuộc Cách mạng Tháng Tám; đồng thời, nêu lên 08 vấn đề cấp bách của Chính phủ cách mạng lâm thời. Đặc biệt, trong Diễn văn nhấn mạnh: “... chỉ nay mai Chính phủ lâm thời sẽ ra sắc lệnh triệu tập Quốc hội theo nguyên tắc dân chủ. Các đại biểu của Quốc hội đều do dân bầu theo lối phổ thông đầu phiếu. Quốc hội sẽ đem lại cho chúng ta một Hiến pháp và một Chính phủ chính thức”(2). Ngoài ra, Bộ Nội vụ có trách nhiệm nghiên cứu xây dựng, kiện toàn hệ thống chính quyền nhà nước các cấp từ Trung ương đến địa phương. Nhận thức sâu sắc vị trí, vai trò của Tổng tuyển cử, được sự tin cậy, giao phó của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Võ Nguyên Giáp đã ký ban hành Sắc lệnh của Chủ tịch Chính phủ lâm thời số 14 ngày 08/9/1945. Nội dung Sắc lệnh chỉ rõ: “1- Trong một thời hạn hai tháng kể từ ngày ký sắc lệnh này sẽ mở cuộc Tổng tuyển cử để bầu Quốc dân đại hội; 2- Tất cả công dân Việt Nam, cả trai và gái, từ 18 tuổi trở lên, đều có quyền tuyển cử và ứng cử, trừ những người đã bị tước mất công quyền và những người trí óc không bình thường; 3- Số đại biểu của Quốc dân đại hội ấn định là 300 người; 4- Quốc dân đại hội sẽ có toàn quyền ấn định Hiến pháp cho nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà; 5- Một Ủy ban để dự thảo thể lệ cuộc tổng tuyển cử sẽ thành lập; 6- Để dự thảo một bản hiến pháp đệ trình Quốc hội, một Ủy ban khởi thảo hiến pháp 7 người sẽ thành lập; 7- Bộ trưởng Bộ Nội vụ và Bộ trưởng Bộ Tuyên truyền phụ trách thi hành sắc lệnh này”. Với lối diễn đạt ngắn gọn, cô đọng, súc tích, Sắc lệnh số 14 ngày 08/9/1945 đặt nền móng cho việc tổ chức thành công cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên vào ngày 06/01/1946, bầu ra Quốc hội khóa I nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Kết quả của cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên này là minh chứng sinh động, hùng hồn cho niềm hạnh phúc lớn lao, vô bờ bến của nhân dân Việt Nam - những người từ thân phận lầm than, mất nước - nay đã “Rũ bùn đứng dậy sáng lòa” (Bài thơ “Đất nước”của Nguyễn Đình Thi), thực sự trở thành chủ nhân của đất nước, không phân biệt là trai hay gái, từ 18 tuổi trở lên đều có quyền tuyển cử và ứng cử vào Quốc dân đại hội.  Tại Kỳ họp thứ nhất (ngày 02/6/1946) Quốc hội khóa I đã công nhận Chính phủ liên hiệp kháng chiến do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch, công nhận Kháng chiến ủy viên hội do đồng chí Võ Nguyên Giáp làm Chủ tịch, công nhận Ban Dự thảo Hiến pháp gồm 11 thành viên. Với việc công nhận Chính phủ chính thức và các thành viên của Chính phủ, Quốc hội khóa I đã mở đường cho việc xây dựng một nền hành chính dân chủ, vì dân - nền tảng để chăm lo cho cuộc sống ấm no về vật chất, đầy đủ về tinh thần, vì hạnh phúc của người dân Việt Nam. Trong tiến trình đó có một phần công lao đóng góp to lớn của Bộ trưởng Bộ Nội vụ Võ Nguyên Giáp.  Cùng với tổ chức Tổng tuyển cử, một trong những khó khăn lớn nhất lúc bấy giờ mà Bộ trưởng Võ Nguyên Giáp phải làm bằng được là kêu gọi những người hiền tài ra giúp nước theo chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Vốn là thầy giáo dạy Lịch sử, Ông thấm nhuần lời dạy của người xưa: “Hiền tài là nguyên khí quốc gia, nguyên khí thịnh thì đất nước mạnh và càng lớn mạnh, nguyên khí suy thì thế nước yếu mà càng xuống thấp. Bởi vậy, các bậc vua tài giỏi đời xưa, chẳng có đời nào lại không chăm lo nuôi dưỡng và đào tạo nhân tài, bồi đắp thêm nguyên khí” (Thân Nhân Trung, bài văn bia đầu tiên ở Văn Miếu - Quốc Tử Giám). Với sự nỗ lực của Ông, sau cuộc Tổng tuyển cử, Quốc hội đã bầu ra Chính phủ chính thức với đội ngũ cán bộ vừa có đức, vừa có tài, trong đó có nhiều nhân sĩ, trí thức tiêu biểu đã tham gia. Việc tổ chức thành công cuộc Tổng tuyển cử bầu ra Quốc hội khóa I là thắng lợi của Đảng, Nhà nước, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, của toàn thể nhân dân Việt Nam, trong đó có công của Bộ trưởng Bộ Nội vụ Võ Nguyên Giáp. Nhìn trên phương diện này, Ông là người có công lớn trong việc tham gia xây dựng nền hành chính vì hạnh phúc của nhân dân Việt Nam. Phụ trách việc thành lập Ban dự thảo Hiến pháp, đưa tới sự ra đời của bản Hiến pháp năm 1946 Còn nhớ, năm 1919, khi gửi bản yêu sách tám điểm tới Hội nghị Versailles đòi các quyền tự do, dân chủ cho nhân dân Việt Nam, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã nêu những điều liên quan đến hiến pháp, pháp quyền. Sau đó, năm 1922, trong “Việt Nam yêu cầu ca”, Người khẳng định vai trò của Hiến pháp, pháp luật bằng hai câu thơ: “Bảy xin hiến pháp ban hành/ Trăm điều phải có thần linh pháp quyền”(3). Ngày 02/9/1945, mở đầu bản Tuyên ngôn Độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh trân trọng trích Tuyên ngôn Độc lập của nước Mỹ năm 1776: “Tất cả mọi người sinh ra đều bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được, trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”(4). Tiếp tục tinh thần thượng tôn “thần linh pháp quyền” cũng như thực hiện Sắc lệnh số 14 ngày 08/9/1945, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Võ Nguyên Giáp đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh giao phụ trách việc thành lập Ban dự thảo Hiến pháp. Chỉ trong một thời gian ngắn, với sự giúp đỡ của các chuyên gia giàu kinh nghiệm, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Võ Nguyên Giáp và Ban Soạn thảo đã hoàn thành Dự thảo và trình Quốc hội khóa I thông qua Hiến pháp năm 1946 - đạo luật cơ bản đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Điều thứ 1 của Hiến pháp năm 1946 xác định: “Nước Việt Nam là một nước dân chủ cộng hòa. Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo”.  Hiến pháp là một thực thể gắn kết chặt chẽ với chế định dân chủ, bởi vì một xã hội không có Hiến pháp thì người dân không thể được hưởng quyền tự do, dân chủ hay mưu cầu hạnh phúc. Hiến pháp năm 1946 là văn bản pháp luật đầu tiên góp phần quan trọng trong việc đấu tranh giành, giữ và xây dựng chính quyền còn non trẻ, là cơ sở để xây dựng nhà nước dân chủ pháp quyền với nền hành chính vận hành thông suốt từ Trung ương đến địa phương. Nền hành chính dựa trên nền tảng dân chủ đó là nền hành chính vì hạnh phúc của người dân. Với công lao to lớn trong việc ra đời bản Hiến pháp năm 1946, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Võ Nguyên Giáp góp phần đặt những viên gạch đầu tiên cho nền hành chính vì hạnh phúc của người dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Đại tướng Võ Nguyên Giáp (thứ hai bên phải) gặp mặt Đoàn đại biểu Anh hùng Chiến sĩ thi đua các lực lượng vũ trang quân Giải phóng miền Nam ra thăm miền Bắc, ngày 11/01/1965. Ảnh: Tư liệu Ký ban hành Sắc lệnh số 07 ngày 05/9/1945 Thấu hiểu nỗi cơ cực, lầm than của nhân dân dưới thời thực dân, phong kiến, và rằng người dân chỉ biết đến tự do, hạnh phúc khi họ được cơm no, áo ấm, nên ngay từ những ngày đầu cách mạng thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề xuất những công việc mà Chính phủ phải thực hiện ngay: “1. Làm cho dân có ăn. 2. Làm cho dân có mặc. 3. Làm cho dân có chỗ ở...”(5); bởi lẽ, “Nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”(6). Một Chính phủ vì dân là một Chính phủ mà từ hoạch định, xây dựng chính sách cho đến thi hành chính sách đều phải xuất phát từ chăm lo cho dân. Người nhấn mạnh:“Chính sách của Đảng và Chính phủ là phải hết sức chăm nom đến đời sông của nhân dân. Nếu dân đói, Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân rét là Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân dốt là Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân ốm là Đảng và Chính phủ có lỗi”(7).  Hành động của nền hành chính vì dân đòi hỏi: “Việc gì có lợi cho dân, chúng ta phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân chúng ta phải hết sức tránh”(8). Là người luôn thấu hiểu và rất linh hoạt trong việc hiện thực hóa quan điểm chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Võ Nguyên Giáp đã tập trung vào vấn đề cấp bách lúc bấy giờ là chống “giặc đói”, cũng có nghĩa là chăm lo cho đời sống vật chất của người dân - một khía cạnh phản ánh cuộc sống hạnh phúc của nhân dân. Thay mặt Chủ tịch Hồ Chí Minh, Ông đã ký ban hành Sắc lệnh của Chủ tịch Chính phủ lâm thời số 07 ngày 05/9/1945.  Sắc lệnh số 07 ngày 05/9/1945 đã góp phần tháo gỡ kịp thời những khó khăn trong việc vận chuyển, buôn bán thóc gạo, chống lại nạn đầu cơ, tích trữ lương thực trong bối cảnh nạn đói đang hoành hành dữ dội khi đó. Nhờ sắc lệnh số 07 mà việc buôn bán, chuyên chở thóc gạo ở Bắc Bộ hoàn toàn được tự do, Chính phủ cần thóc gạo sẽ mua thẳng của tư gia. Còn đối với những người có hành vi đầu cơ, tích trữ gạo mà làm ảnh hưởng đến nền kinh tế thì sẽ bị nghiêm phạt theo luật và bị tịch thu gia sản. Việc Bộ trưởng Bộ Nội vụ Võ Nguyên Giáp kịp thời ký ban hành Sắc lệnh số 07 ngày 05/9/1945 cũng chính là việc làm thiết thực, kịp thời của Chính phủ, phản ánh sinh động một thực tế rằng, nền hành chính dân chủ non trẻ buổi đầu ấy đã luôn biết đặt lợi ích, nhu cầu của người dân Việt Nam lên trên hết, biết vì hạnh phúc của người dân bắt đầu từ những điều dung dị nhất là cơm ăn, áo mặc. Ký ban hành Sắc lệnh số 17, số 19 và số 20 ngày 08/9/1945 Bên cạnh việc đối phó với “giặc đói”, Chính phủ còn phải quyết liệt đấu tranh với “giặc dốt”. Người dân “no cái bụng” rồi mà vẫn còn “đói cái chữ”, nghĩa là vẫn còn nghèo nàn về đời sống tinh thần thì chưa thể có được niềm hạnh phúc thực sự. Ngay trong buổi họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ vào ngày 03/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đề ra sáu việc cấp bách, trong đó, việc chống nạn mù chữ xếp thứ hai, chỉ sau nạn đói. Người nói: “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu. Vì vậy, tôi đề nghị mở một chiến dịch chống nạn mù chữ”. Để chăm lo cho hạnh phúc lâu dài của nhân dân thì nhất thiết phải lo xóa nạn mù chữ. Thay mặt Chủ tịch Chính phủ lâm thời, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Võ Nguyên Giáp đã ký ban hành Sắc lệnh số 17 ngày 08/9/1945. Sắc lệnh số 17 thực sự là “cú hích” mạnh mẽ làm bùng lên phong trào “Bình dân học vụ” diễn ra rộng khắp từ thành thị đến nông thôn; những lớp học chữ I, T mọc lên khắp mọi nơi, người biết chữ làm giáo viên không lương, người dân đi học để thoát cảnh không thể viết tên mình. Bộ trưởng Bộ Nội vụ Võ Nguyên Giáp cũng đã ký ban hành Sắc lệnh số 19 ngày 08/9/1945 với nội dung gồm 03 khoản, trong đó, Khoản II quy định: “Trong hạn sáu tháng, làng nào và đô thị nào cũng đã phải là một lớp học dạy được ít nhất là ba mươi người”. Bộ trưởng Võ Nguyên Giáp còn ký ban hành Sắc lệnh số 20 về việc thiết lập những lớp học bình dân buổi tối cho nông dân và thợ thuyền; trong đó quy định “bắt buộc học chữ quốc ngữ và không phải mất tiền cho tất cả mọi người”.  Kết quả của phong trào Bình dân học vụ vượt trên cả sự mong đợi. Theo sách Việt Nam chống nạn thất học của Nhà xuất bản Giáo dục năm 1980, chỉ trong một năm (từ tháng 8/1945 đến tháng 8/1946), phong trào Bình dân học vụ đã xóa mù chữ cho hơn 2,5 triệu người, phát triển được gần 96.000 giáo viên, mở được gần 75.000 lớp học. Sau 5 năm (đến ngày 30/6/1950), gần 12,2 triệu người biết chữ. 10 tỉnh với 80 huyện, hơn 1.400 xã và 7.200 thôn được công nhận thanh toán nạn mù chữ. Có thể khẳng định rằng, Sắc lệnh số 17, Sắc lệnh số 19 và Sắc lệnh số 20 của Chủ tịch Chính phủ lâm thời ngày 08/9/1945 là những văn bản pháp chế hành chính rất quan trọng, góp phần không nhỏ trong việc thúc đẩy cuộc chiến chống “giặc dốt” thời bấy giờ, đồng thời, đặt nền móng cho việc cải thiện, nâng cao đời sống văn hóa tinh thần của các tầng lớp nhân dân. Đây cũng là một trong những tiêu chí rất quan trọng của nền hành chính hiệu lực, hiệu quả, vì hạnh phúc của người dân. Bằng tài năng xuất chúng, bằng mưu lược tinh thông và trên hết là cái tâm sáng vì nước, vì dân, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Võ Nguyên Giáp đã làm rất tốt công tác xây dựng nền pháp chế hành chính vì dân, chủ động tham mưu cho Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh ban hành nhiều sắc lệnh, văn bản hành chính..., góp phần từng bước đưa công tác tổ chức và hoạt động của bộ máy hành chính đi vào ổn định, nền nếp, có căn cứ pháp lý và dựa trên quy trình hành chính chặt chẽ; dần khẳng định được hiệu lực, hiệu quả hoạt động của nền hành chính vì hạnh phúc của người dân. Chúng ta có quyền tự hào khẳng định rằng, những cống hiến to lớn của Bộ Nội vụ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong những ngày tháng đầu, không thể nào quên dưới sự lãnh đạo của Bộ trưởng Võ Nguyên Giáp đã đặt nền móng vững chắc cho quá trình xây dựng nền hành chính dân chủ, pháp quyền vì hạnh phúc của người dân Việt Nam. Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh, lịch sử dân tộc và đất nước Việt Nam anh hùng của chúng ta sẽ mãi mãi ghi nhận, tiếp tục kế thừa, phát huy những giá trị của nền hành chính vì hạnh phúc của người dân trên những chặng đường cách mạng tiếp theo. Đồng chí Phạm Thị Thanh Trà - Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Phó Trưởng ban Ban Tổ chức Trung ương, Bộ trưởng Bộ Nội vụ. TỰ HÀO VÀ BIẾT ƠN VỊ BỘ TRƯỞNG ĐẦU TIÊN VÕ NGUYÊN GIÁP, BỘ NỘI VỤ KHÔNG NGỪNG PHÁT HUY TRUYỀN THỐNG VẺ VANG CỦA NGÀNH, GÓP PHẦN XÂY DỰNG NỀN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC VÌ HẠNH PHÚC CỦA NGƯỜI DÂN VIỆT NAM Đại hội ĐBTQ lần thứ XIII của Đảng đã xác định: “Xây dựng nền hành chính nhà nước phục vụ nhân dân, dân chủ, pháp quyền, chuyên nghiệp, hiện đại, trong sạch, vững mạnh, công khai, minh bạch... Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, phục vụ nhân dân và sự phát triển của đất nước”(9).  Một trong những điểm mới lần đầu tiên được nêu trong Văn kiện Đại hội ĐBTQ lần thứ XIII của Đảng là vấn đề “quản trị quốc gia”. Trong Báo cáo chính trị, phần “Những nhiệm vụ trọng tâm và đột phá chiến lược của nhiệm kỳ Đại hội XIII”, Đảng ta chủ trương: “Đổi mới quản trị quốc gia theo hướng hiện đại, hiệu quả”(10). Bên cạnh đó, cùng với quan điểm “khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, ý chí tự cường và phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”, Đảng ta chủ trương: “Phải có cơ chế, chính sách phát huy tinh thần cống hiến vì đất nước; mọi chính sách của Đảng, Nhà nước đều phải hướng vào nâng cao đời sống vật chất, tinh thần và hạnh phúc của nhân dân”(11). Từ vai trò của Bộ trưởng Bộ Nội vụ Võ Nguyên Giáp với tư cách là người tham gia đặt những viên gạch đầu tiên xây dựng nền hành chính dân chủ, pháp quyền, vì hạnh phúc của nhân dân, kết hợp với chủ trương, đường lối của Đảng ta về xây dựng nền hành chính nhà nước phục vụ nhân dân, dân chủ, pháp quyền, chuyên nghiệp, hiện đại, trong sạch, vững mạnh, công khai, minh bạch, hiệu lực, hiệu quả; từng bước hướng tới nền quản trị quốc gia vì hạnh phúc của nhân dân Việt Nam, có thể khẳng định rằng, Đảng, Nhà nước đang rất tin tưởng, giao phó cho ngành Nội vụ nói chung, Bộ Nội vụ nói riêng trọng trách nặng nề - song cũng là sứ mạng thiêng liêng, cao cả: xây dựng, vận hành nhịp nhàng, thông suốt nền hành chính nhà nước phục vụ nhân dân, hướng đến mục tiêu tối thượng vì hạnh phúc của nhân dân.  Trên hành trình đó, việc tiếp thu, kế thừa, tiếp tục phát huy những di sản về một nền hành chính dân chủ, pháp quyền, vì hạnh phúc của nhân dân Việt Nam mà Cố Bộ trưởng Bộ Nội vụ Võ Nguyên Giáp đã có công xây dựng, bồi đắp chắc chắn sẽ mang lại những giá trị cao đẹp và nhân văn sâu sắc, những bài học hữu ích cho toàn thể cán bộ, công chức, viên chức toàn ngành Nội vụ hiện nay. Kỷ niệm 110 năm ngày sinh của Đại tướng Võ Nguyên Giáp là dịp để chúng ta cùng nhau ôn lại cuộc đời, sự nghiệp và những cống hiến to lớn của Đại tướng với Đất nước, với Dân tộc, với Quân đội nhân dân Việt Nam và với vị Bộ trưởng Bộ Nội vụ đầu tiên - người tham gia đặt nền móng cho việc xây dựng một nền hành chính vì hạnh phúc của nhân dân Việt Nam; chúng ta càng thêm tự hào về người cộng sản kiên trung, Anh hùng dân tộc, một vị tướng kiệt xuất của nhân loại, người anh cả của Quân đội nhân dân Việt Nam, vị Bộ trưởng Bộ Nội vụ đầu tiên đã góp phần làm rạng danh cho dân tộc Việt Nam anh hùng. Với tâm nguyện “ôn cố tri tân”, học hỏi các bậc tiền nhân ý chí, nghị lực, những bài học quý, kinh nghiệm hay để vận dụng linh hoạt, sáng tạo vào thực tiễn sự nghiệp cách mạng của dân tộc, đất nước trong hiện tại, chúng ta tin tưởng sâu sắc rằng, những di sản tinh thần vô giá mà Cố Bộ trưởng Bộ Nội vụ Võ Nguyên Giáp để lại cho các thế hệ cán bộ, công chức chúng ta hôm nay và muôn đời sau sẽ luôn lan tỏa mạnh mẽ, trở thành động lực thôi thúc mỗi chúng ta nỗ lực vươn lên, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và Nhân dân giao phó./. -------------------------------- Ghi chú: (1) Xem: 101 khoảnh khắc về Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Nxb Hà Nội, 2011, tr.95. (2) Diễn văn của Bộ trưởng Bộ Nội vụ Võ Nguyên Giáp tại Lễ Độc lập 02/9/1945; văn bản có tại: http://hovuvovietnam.com/Dien-van-cua-Bo-truong-Bo-Noi-vu-Vo-Nguyen-Giap-tai-Le-doc-lap-2-9-1945_tc_ 304 _332_1133.html, truy cập ngày 05/7/2021. (3) Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 1, Nxb CTQG-ST, H.2011, tr.473. (4),(5),(6),(8) Sđd, tập 4, tr.1, tr.175, tr.64, tr.47. (7) Sđd, tập 7, tr.572. (9),(10),(11) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập I, Nxb CTQG-ST, H.2021, tr.176-178, tr.203, tr.216. PHẠM THỊ THANH TRÀ ỦY VIÊN BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG ĐẢNG, PHÓ TRƯỞNG BAN BAN TỔ CHỨC TRUNG ƯƠNG, BỘ TRƯỞNG BỘ NỘI VỤ Theo tcnn.vn    

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng: “Chính phủ mới: Khí thế mới, nỗ lực mới, quyết tâm phấn đấu lập nhiều thành tích mới”

TĐKT - Sáng 11/8, tại Phiên họp đầu tiên của Chính phủ nhiệm kỳ 2021 - 2026 triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng và Nghị quyết của Quốc hội khóa XV về phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2021 - 2025, theo hình thức trực tuyến với các địa phương trên toàn quốc, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã có bài phát biểu quan trọng với nhan đề: "Chính phủ mới: Khí thế mới, nỗ lực mới, quyết tâm phấn đấu lập nhiều thành tích mới”. Tạp chí Thi đua Khen thưởng trân trọng giới thiệu toàn văn bài phát biểu của Tổng Bí thư. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng phát biểu tại phiên họp của Chính phủ sáng 11/8. Ảnh: VGP. “Kính thưa các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Thưa các vị đại biểu, Thưa toàn thể các đồng chí tham dự Hội nghị tại Trung tâm Hội nghị và các điểm cầu địa phương. Hôm nay, tôi rất vui mừng được đến dự Phiên họp đầu tiên của Chính phủ nhiệm kỳ 2021 - 2026 - một Phiên họp có ý nghĩa rất quan trọng và đã được chuẩn bị rất chu đáo về nhiều phương diện, nhằm triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội toàn quốc lần thứ XIII của Đảng. Trước hết, tôi xin được thay mặt các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước và với tình cảm cá nhân, nhiệt liệt chào mừng các vị đại biểu cùng các đồng chí tham dự Hội nghị; và đặc biệt xin nhiệt liệt chúc mừng đồng chí Thủ tướng Phạm Minh Chính đã được Quốc hội bầu và các đồng chí thành viên Chính phủ được Quốc hội phê chuẩn với số phiếu tín nhiệm rất cao. Hội nghị của chúng ta hôm nay diễn ra vào thời điểm có nhiều sự kiện lớn của đất nước, thể hiện sự phối hợp rất nhịp nhàng, ăn khớp của cả hệ thống chính trị ở nước ta; sự đoàn kết nhất trí cao của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta; một phương thức, cách làm rất bài bản, hợp lý, khoa học, theo tinh thần "Trên dưới đồng lòng", "tiền hô hậu ủng", "nhất hô bá ứng" và "dọc ngang thông suốt". Vì sao tôi dám nói như vậy? Tôi xin chứng minh: Trong bối cảnh tình hình trong nước và thế giới bên cạnh thuận lợi cũng có rất nhiều khó khăn, thách thức, nhất là phải đối phó với dịch bệnh COVID-19, chúng ta đã tiến hành rất thành công đại hội đảng bộ các cấp và Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng (tháng 01/2021); tiếp theo đó là 3 Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng; tổ chức thắng lợi cuộc bầu cử Quốc hội khoá XV và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026 với quy mô lớn nhất từ trước đến nay (tháng 5/2021); tiến hành Kỳ họp thứ nhất của Quốc hội khóa XV (tháng 7/2021) để kiện toàn bộ máy tổ chức, nhân sự và triển khai thực hiện các nghị quyết, quyết định của Đại hội XIII và các nghị quyết hội nghị của Trung ương Đảng. Các cấp, các ngành đã khẩn trương triển khai thực hiện các chủ trương, nghị quyết, quyết định của Trung ương theo đúng tiến độ, kịp thời, với sự đồng thuận, nhất trí cao, dư luận quốc tế rất quan tâm. Chính phủ họp hôm nay cũng chỉ sau Kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa XV có mấy ngày. Tôi được biết, Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cũng đang tích cực, khẩn trương chuẩn bị để sẽ họp Hội nghị toàn quốc triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng sau Hội nghị này của Chính phủ. Rõ ràng, đây là sự phối hợp rất cần thiết, rất nhịp nhàng, bài bản, và thực tế cho thấy đây là cách làm hợp lý, cho kết quả tốt đẹp. Chúng ta biết rằng, hệ thống chính trị ở nước ta gồm có 3 bộ phận: Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ. Đảng lãnh đạo có nghĩa là Đảng đề ra đường lối, chủ trương, phương hướng xây dựng, phát triển và bảo vệ đất nước, mở rộng các quan hệ đối ngoại. Nhà nước (bao gồm Quốc hội, Chính phủ và các cơ quan tư pháp) quản lý có nghĩa là Nhà nước tổ chức, triển khai thực hiện có hiệu quả đường lối, chủ trương của Đảng, biến nó thành hiện thực. Nhân dân (thông qua Mặt trận, các tổ chức quần chúng thành viên của Mặt trận) làm chủ là chủ thể thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, các chính sách, pháp luật của Nhà nước và được thụ hưởng các thành quả do mình làm ra. Riêng về các cơ quan nhà nước thì Quốc hội là cơ quan lập hiến, lập pháp, thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng; Chính phủ là cơ quan hành pháp, có trách nhiệm cụ thể hoá và tổ chức thực hiện, biến luật pháp của Nhà nước, tức cũng là đường lối của Đảng thành hiện thực, tạo ra của cải vật chất, quản lý xã hội, mang lại lợi ích thiết thực cho toàn thể nhân dân, cho đất nước; các cơ quan tư pháp (gồm Tòa án, Viện Kiểm sát,...) là cơ quan bảo vệ pháp luật, giữ gìn trật tự, an toàn cho xã hội, cho nhân dân. Hôm nay, được họp với Chính phủ, tôi xin chỉ tập trung nói riêng về Chính phủ (các nguyên tắc, nội dung, cơ chế hoạt động của Chính phủ) đặt trong mối quan hệ tổng thể của các cơ quan nhà nước, của cả hệ thống chính trị ở nước ta, để chúng ta có cái nhìn bao quát chung về sự lãnh đạo của Đảng, trách nhiệm quản lý của Nhà nước và vai trò làm chủ của Nhân dân, nhằm một mục tiêu chung là xây dựng một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội. Thưa các đồng chí, Như chúng ta đã biết, sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, ngày 02 tháng 9 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra Tuyên cáo với quốc dân đồng bào, với toàn thế giới về việc thành lập Chính phủ Lâm thời của Việt Nam và đọc Tuyên ngôn độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hoà. Ngay sau khi Quốc hội khóa I ra đời (tháng 3/1946), Chính phủ Liên hiệp kháng chiến hợp hiến, hợp pháp do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu đã được thành lập để điều hành đất nước. Từ đó đến nay, trải qua hơn 75 năm, với 15 nhiệm kỳ hoạt động, dưới nhiều tên gọi khác nhau, Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hoà trước đây cũng như Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngày nay, đã luôn luôn gắn bó, đồng hành cùng dân tộc, không ngừng phát huy vai trò, vị trí là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất, thực hiện quyền hành pháp; thực hiện có hiệu quả chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn quản lý, điều hành phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, đối ngoại,... theo đúng quy định của Hiến pháp và pháp luật, có những đóng góp to lớn và quan trọng vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trong giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1960, Chính phủ đã cùng nhân dân cả nước tiến hành cách mạng giải phóng dân tộc, từng bước cải cách dân chủ, thực hiện thắng lợi cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp xâm lược; vừa khôi phục, phát triển kinh tế, cải tạo xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, vừa tiếp tục đấu tranh giành độc lập ở miền Nam và thống nhất đất nước. Từ năm 1960 đến năm 1975, hoạt động trong thời kỳ nước ta thực hiện đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược (Xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và Đấu tranh giải phóng miền Nam), Chính phủ đã có những đóng góp to lớn vào việc xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật ban đầu của chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đến thắng lợi hoàn toàn, thu non sông về một mối. Từ năm 1976 đến nay, Chính phủ nước ta là Chính phủ của nước Việt Nam thống nhất; tiếp tục kế thừa và phát huy những thành quả và kinh nghiệm của Chính phủ các khoá trước, ngày càng chủ động, tích cực trong công cuộc khôi phục, phát triển kinh tế - xã hội sau chiến tranh (1976 - 1985); năng động, sáng tạo trong triển khai thực hiện công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo (từ năm 1986 đến nay), cùng với toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta có những đóng góp xứng đáng vào thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử của 35 năm đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, làm cho đất nước ta ngày càng phát triển, chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Đặc biệt là 5 năm gần đây, nắm bắt được thuận lợi, thời cơ, vượt qua nhiều khó khăn, thách thức, nhất là tác động của đại dịch COVID-19 và thiên tai liên tiếp xảy ra, Chính phủ đã cùng với toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta phát huy tinh thần yêu nước, đoàn kết, ý chí quyết tâm, bản lĩnh đổi mới, sáng tạo, nỗ lực phấn đấu đạt được nhiều thành tựu rất quan trọng, khá toàn diện, tạo nhiều dấu ấn nổi bật; đất nước phát triển nhanh và bền vững; góp phần củng cố, nâng cao niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa. Nhìn một cách tổng thể, chúng ta nhận thấy, mỗi nhiệm kỳ của Chính phủ đều đã để lại những dấu ấn riêng và đều hoàn thành trọng trách mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó, thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ theo quy định của Luật Tổ chức Chính phủ trong việc tổ chức thi hành Hiến pháp và pháp luật; hoạch định chính sách và trình dự án luật, pháp lệnh; quản lý nhà nước, chỉ đạo, điều hành phát triển kinh tế - xã hội; quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu; phát triển văn hóa, y tế, giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ, thông tin và truyền thông; thực hiện các chính sách xã hội, dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo; bảo đảm quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội; đẩy mạnh các hoạt động đối ngoại và hội nhập quốc tế... Cần phải khẳng định, những thành tựu đạt được của Chính phủ trong 75 năm qua bắt nguồn từ sự lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt của Đảng ta - nhân tố quyết định để Chính phủ hoàn thành xuất sắc trọng trách mà Đảng, Nhà nước và nhân dân tin tưởng giao phó. Chính phủ các khoá đã luôn luôn nắm vững đường lối, quan điểm và các chủ trương, chính sách của Đảng để cụ thể hóa và thể chế hóa thành luật pháp và vận dụng đúng đắn vào các hoạt động của Chính phủ. Đó là kết quả của sự gắn bó mật thiết giữa Đảng, Quốc hội và Chính phủ với các tầng lớp nhân dân, bám sát thực tế, nắm bắt đúng tâm tư, nguyện vọng của nhân dân; lắng nghe và tiếp nhận các ý kiến, kiến nghị xác đáng để không ngừng hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Đồng thời, đó cũng là kết quả của quá trình đổi mới không ngừng về tổ chức bộ máy, phương thức và lề lối làm việc, nâng cao năng lực, chất lượng và hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Chính phủ và chính quyền các cấp; với sự ủng hộ, phối hợp chặt chẽ, cộng đồng trách nhiệm của Quốc hội, Chủ tịch nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các cơ quan hữu quan khác. Thưa các đồng chí, Đại hội toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã thành công tốt đẹp, nhất trí cao đề ra Chiến lược xây dựng, phát triển và bảo vệ đất nước, trong đó có Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2021 - 2030, Tầm nhìn đến năm 2045, đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao và Phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2021 - 2025. Hội nghị Trung ương 3 vừa qua đã kiện toàn một bước các nhân sự chủ chốt trong hệ thống chính trị, ban hành Kết luận về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, tài chính quốc gia, đầu tư công trung hạn 5 năm 2021 - 2025; và đã được Quốc hội khóa XV nhất trí, thể chế hoá tại Kỳ họp thứ nhất mới đây. Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đang khẩn trương, tích cực triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng và các kết luận, quyết định chỉ đạo của Trung ương trong bối cảnh, tình hình có nhiều khó khăn, thách thức lớn hơn trước và gay gắt hơn so với dự báo. Từ đầu năm đến nay, cả nước vẫn phải tiếp tục nỗ lực, quyết liệt chống dịch COVID-19; đợt bùng phát dịch lần thứ tư lây lan rất nhanh, hết sức nguy hiểm, phức tạp, khó kiểm soát và có thể còn tiếp tục kéo dài; thậm chí vẫn còn tiềm ẩn nguy cơ bùng phát các đợt dịch mới. Kinh tế - xã hội nước ta tuy tiếp tục phát triển, đạt được nhiều kết quả tích cực so với cùng kỳ năm 2020 nhưng vẫn thấp hơn mục tiêu đề ra. Sản xuất kinh doanh và đời sống của nhân dân, nhất là ở những vùng có dịch và những ngành, lĩnh vực chịu ảnh hưởng trực tiếp của đại dịch gặp nhiều khó khăn, thách thức. Kinh tế thế giới có dấu hiệu phục hồi, tăng trưởng trở lại nhưng chưa thật vững chắc; thương mại và đầu tư quốc tế suy giảm; nợ công toàn cầu tăng mạnh, thị trường tài chính - tiền tệ thế giới tiềm ẩn nhiều rủi ro, vẫn còn nguy cơ lâm vào khủng hoảng. Đại dịch COVID-19 có thể còn tiếp tục diễn biến phức tạp, khó kiểm soát, tác động tiêu cực, kéo dài đến kinh tế thế giới, khu vực, trong đó có khu vực Đông Nam Á và nước ta; làm thay đổi sâu sắc trật tự, cấu trúc kinh tế, phương thức quản trị và tổ chức hoạt động kinh tế và đời sống xã hội toàn cầu, buộc nhiều nước phải thay đổi định hướng, chiến lược phát triển kinh tế theo hướng nâng cao nội lực, chú trọng phát triển thị trường trong nước, phát triển kinh tế số, xã hội số... Để hoàn thành thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ do Đại hội XIII, Hội nghị Trung ương 3 của Đảng và Kỳ họp thứ nhất của Quốc hội khóa XV đã đề ra, Chính phủ nhiệm kỳ 2021 - 2026 cần tiếp tục phát huy mạnh hơn nữa, tốt hơn nữa truyền thống vẻ vang, những kết quả, thành tích to lớn và những bài học kinh nghiệm quý báu mà Chính phủ qua các thời kỳ đã đạt được; nỗ lực phấn đấu cao hơn nữa trên con đường đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả hoạt động trong giai đoạn phát triển mới. Tập trung ưu tiên thực hiện 6 nhiệm vụ trọng tâm và 3 đột phá chiến lược, xử lý dứt điểm những "điểm nghẽn", vướng mắc, tồn tại để phát triển đất nước nhanh và bền vững hơn trên cơ sở tăng cường ổn định kinh tế vĩ mô, phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, phát huy tối đa tiềm năng, lợi thế của đất nước; cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế; thực hiện đồng bộ các giải pháp khắc phục có hiệu quả tác động của đại dịch COVID-19, nhanh chóng phục hồi và phát triển kinh tế; phát huy mạnh mẽ các giá trị văn hoá, sức mạnh con người Việt Nam và sức sáng tạo của mỗi cá nhân; từng bước xây dựng một xã hội trật tự, kỷ cương, an toàn, lành mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; bảo đảm cuộc sống bình yên và hạnh phúc của nhân dân; chú trọng bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu; tăng cường quốc phòng, an ninh; kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ quốc gia và giữ vững môi trường hoà bình, ổn định để phát triển đất nước; chủ động, tích cực hội nhập quốc tế, nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại và vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế. Trong quá trình này, cần phải luôn luôn quan tâm nghiên cứu, nắm chắc và quán triệt thật sâu sắc các vấn đề lý luận và thực tiễn cơ bản, có tính nguyên tắc rất quan trọng đã được thể hiện trong Cương lĩnh, đường lối cơ bản của Đảng ta về cách mạng nước ta. Đặc biệt là một số vấn đề sau đây: Một là, về phát triển kinh tế: Mô hình kinh tế mà chúng ta xây dựng là kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Đây chính là một đột phá lý luận rất cơ bản và sáng tạo của Đảng ta, là thành quả lý luận quan trọng qua hơn 35 năm thực hiện đường lối đổi mới, xuất phát từ thực tiễn Việt Nam và tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của thế giới. Theo đó, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là nền kinh tế thị trường hiện đại, hội nhập quốc tế, vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa, nhằm mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế. Các thành phần kinh tế hoạt động theo pháp luật đều là bộ phận hợp thành quan trọng của nền kinh tế, bình đẳng trước pháp luật, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh. Trong đó, kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo; kinh tế tập thể không ngừng được củng cố và phát triển; kinh tế tư nhân là một trong những động lực quan trọng của nền kinh tế; kinh tế hỗn hợp, đa sở hữu, nhất là các doanh nghiệp cổ phần ngày càng phát triển; kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân. Quan hệ phân phối bảo đảm công bằng và tạo động lực cho phát triển; thực hiện chế độ phân phối chủ yếu theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế, đồng thời theo mức đóng góp vốn cùng các nguồn lực khác và phân phối thông qua hệ thống an sinh xã hội, phúc lợi xã hội. Nhà nước quản lý nền kinh tế bằng pháp luật, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách và lực lượng vật chất để định hướng, điều tiết, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội; thực hiện đầy đủ và đúng đắn chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Hai là, về phát triển văn hoá, xã hội: Một đặc trưng cơ bản, một thuộc tính quan trọng của định hướng xã hội chủ nghĩa trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam là phải gắn kinh tế với xã hội, thống nhất chính sách kinh tế với chính sách xã hội, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước, từng chính sách và trong suốt quá trình phát triển. Điều đó có nghĩa là: Không chờ đến khi kinh tế đạt tới trình độ phát triển cao rồi mới thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, càng không "hy sinh" tiến bộ và công bằng xã hội để chạy theo tăng trưởng kinh tế đơn thuần. Trái lại, mỗi chính sách kinh tế đều phải hướng tới mục tiêu phát triển xã hội; mỗi chính sách xã hội đều phải nhằm tạo ra động lực thúc đẩy phát triển kinh tế và bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội; khuyến khích làm giàu hợp pháp phải đi đôi với bảo đảm an sinh xã hội, xoá đói, giảm nghèo, chăm sóc những người có công, những người có hoàn cảnh khó khăn. Đây là một yêu cầu có tính nguyên tắc để bảo đảm sự phát triển lành mạnh, bền vững, theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Chúng ta coi văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội và xác định phát triển văn hóa đồng bộ, tương xứng với tăng trưởng kinh tế và tiến bộ xã hội cũng là một định hướng căn bản của quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Nền văn hoá mà Việt Nam xây dựng là nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, một nền văn hoá thống nhất trong đa dạng, dựa trên các giá trị tiến bộ, nhân văn; kế thừa và phát huy những giá trị truyền thống tốt đẹp, giàu bản sắc của tất cả các dân tộc trong nước, tiếp thu những thành tựu, tinh hoa văn hóa nhân loại, phấn đấu xây dựng một xã hội văn minh, lành mạnh vì lợi ích chân chính và phẩm giá con người, với trình độ tri thức, đạo đức, thể lực, lối sống và thẩm mỹ ngày càng cao. Chúng ta xác định: Con người giữ vị trí trung tâm trong chiến lược phát triển; phát triển văn hóa, xây dựng con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của công cuộc đổi mới; phát triển giáo dục - đào tạo và khoa học - công nghệ là quốc sách hàng đầu; bảo vệ môi trường là một trong những vấn đề sống còn, là tiêu chí để phát triển bền vững; xây dựng gia đình hạnh phúc, tiến bộ làm tế bào lành mạnh, vững chắc của xã hội, thực hiện bình đẳng giới là tiêu chí của tiến bộ, văn minh. Xã hội xã hội chủ nghĩa mà chúng ta xây dựng là một xã hội hướng tới các giá trị tiến bộ, nhân văn, dựa trên nền tảng lợi ích chung của toàn xã hội, khác hẳn về chất so với các xã hội cạnh tranh để chiếm đoạt lợi ích riêng giữa các cá nhân và phe nhóm, do đó cần và có điều kiện để xây dựng sự đồng thuận xã hội thay vì đối lập, đối kháng xã hội. Trong chế độ chính trị xã hội chủ nghĩa, mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và Nhân dân là mối quan hệ giữa các chủ thể thống nhất về mục tiêu và lợi ích; mọi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật và hoạt động của Nhà nước đều vì lợi ích của nhân dân. Mô hình chính trị và cơ chế vận hành tổng quát là Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và Nhân dân làm chủ, như trên tôi đã nói. Ba là, về tăng cường quốc phòng, an ninh, đối ngoại: Tình hình thế giới, trong nước đang diễn biến nhanh chóng, phức tạp đòi hỏi chúng ta phải luôn luôn quan tâm giữ vững độc lập, tự chủ; tăng cường tiềm lực quốc phòng - an ninh; nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động đối ngoại, hội nhập quốc tế; kiên quyết, kiên trì bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, biển, đảo, vùng trời; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng và phát triển đất nước. Kết hợp chặt chẽ phát triển kinh tế - xã hội với củng cố, tăng cường quốc phòng - an ninh theo đúng phương châm: "phát triển kinh tế - xã hội là nhiệm vụ trung tâm; bảo đảm quốc phòng, an ninh là trọng yếu, thường xuyên". Trong mọi chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội phải luôn luôn quan tâm vấn đề quốc phòng, an ninh. Sớm cụ thể hóa và thực hiện thắng lợi mục tiêu xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại. Đến năm 2025, cơ bản xây dựng quân đội tinh, gọn, mạnh; đến năm 2030, xây dựng một số quân chủng, binh chủng, lực lượng hiện đại; phấn đấu từ năm 2030, xây dựng quân đội hiện đại. Phấn đấu đến năm 2030 xây dựng lực lượng Công an nhân dân tinh nhuệ, hiện đại. Xây dựng "thế trận lòng dân", thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân vững chắc làm nền tảng cho sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc. Quân đội và Công an phải phối hợp chặt chẽ, nhịp nhàng với nhau như hai cái cánh của một con chim trong sự nghiệp bảo vệ độc lập và giữ gìn trật tự an ninh của Tổ quốc. Kịp thời phát hiện, chủ động xử lý có hiệu quả các vụ việc phức tạp về an ninh, trật tự; không để xẩy ra các "điểm nóng", phù hợp với tình hình dịch bệnh đang diễn biến rất phức tạp. Kịp thời đấu tranh trấn áp có hiệu quả các loại tội phạm, nhất là tội phạm có tổ chức, tội phạm xuyên quốc gia, tội phạm sử dụng công nghệ cao, tội phạm ma tuý… Tiếp tục đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế ngày càng thực chất và đi vào chiều sâu. Kết hợp chặt chẽ, hiệu quả công tác đối ngoại của Đảng với ngoại giao Nhà nước và đối ngoại nhân dân. Nâng cao năng lực hội nhập, nhất là cấp vùng và địa phương, doanh nghiệp; tận dụng tối đa các cơ hội từ quá trình hội nhập mang lại, nhất là các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới đã ký kết. Xây dựng nền ngoại giao hiện đại, trong đó chú trọng đẩy mạnh ngoại giao quốc phòng, an ninh để bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa; giữ nước từ khi nước chưa nguy. Tăng cường ngoại giao kinh tế phục vụ phát triển, lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ. Mở rộng và nâng cao hiệu quả ngoại giao văn hóa, đối ngoại nhân dân, đóng góp thiết thực vào việc quảng bá hình ảnh, thương hiệu quốc gia và tăng cường sức mạnh tổng hợp của đất nước. Bốn là, về xây dựng tổ chức, bộ máy và công tác cán bộ: Đây là vấn đề cơ bản, rất quan trọng, có ý nghĩa quyết định đến toàn bộ hoạt động của Chính phủ. Vì vậy, tôi đề nghị Chính phủ, các cơ quan thuộc Chính phủ và chính quyền các cấp cần đặc biệt quan tâm, làm tốt hơn nữa công tác này, thực hiện nghiêm Luật Tổ chức Chính phủ, Luật Tổ chức chính quyền địa phương và các luật khác có liên quan nhằm xây dựng tổ chức, bộ máy và cán bộ thật sự trong sạch, vững mạnh, có đủ bản lĩnh, trí tuệ, phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống và trình độ chuyên môn vững vàng. Tránh tình trạng chỉ lo công tác chuyên môn đơn thuần. Đồng thời tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức lãnh đạo, chỉ đạo và lề lối làm việc của các cơ quan, đơn vị, nhất là người đứng đầu theo đúng quy định của Hiến pháp và pháp luật, đáp ứng yêu cầu "đúng vai, thuộc bài" như tôi vẫn thường nói. Chú trọng hơn nữa đến việc cải cách hành chính, ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, điều hành; nâng cao năng lực, hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy tổ chức, cán bộ; xây dựng có cơ sở khoa học và tổ chức thực hiện thật tốt các chương trình, kế hoạch công tác, dành thời gian thoả đáng cho việc tập trung nghiên cứu, xem xét, xử lý một cách căn cơ, bài bản, dứt điểm, có trọng tâm, trọng điểm các vấn đề kinh tế - xã hội nổi cộm, tránh hình thức, phô trương, né tránh, đùn đẩy trách nhiệm. Đặc biệt là cần phải đổi mới, nâng cao hiệu lực, hiệu quả việc phân cấp, phân quyền, phân công, phối hợp, gắn với tăng cường kiểm tra, giám sát giữa các cơ quan, đơn vị thuộc Chính phủ, chính quyền các địa phương và giữa các cơ quan, đơn vị này với các cơ quan, đơn vị của Đảng, Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp, hệ thống các cơ quan tư pháp và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội; bảo đảm cả hệ thống tổ chức bộ máy luôn luôn vận hành một cách đồng bộ, thống nhất; tránh tình trạng "trống đánh xuôi, kèn thổi ngược", "quyền anh, quyền tôi", "cua cậy càng, cá cậy vây". Đồng thời, tiếp tục thực hiện nghiêm túc Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI và khóa XII về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa", gắn với việc đẩy mạnh thực hiện Chỉ thị số 05 của Bộ Chính trị về Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh một cách thực chất theo Kết luận số 01-KL/TW, ngày 18/5/2021 mới đây của Bộ Chính trị. Triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 6 khóa XII về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; đổi mới hệ thống tổ chức và quản lý, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập. Làm tốt hơn nữa công tác cán bộ, nhất là việc quản lý, nhận xét, đánh giá cán bộ để lựa chọn, bố trí đúng những người thật sự có đức, có tài; thật sự"cần, kiệm, liêm, chính", "chí công vô tư"; thật sự tâm huyết vì nước, vì dân vào các vị trí lãnh đạo của bộ máy chính phủ và chính quyền các cấp. Đừng "nhìn gà hoá cuốc", "đừng thấy đỏ tưởng là chín", đừng bị cám dỗ bởi những lợi ích xấu xa, những việc làm vô liêm sỉ. Kiên quyết đấu tranh loại bỏ những phần tử hư hỏng, suy thoái về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống; chống mọi biểu hiện chạy chức, chạy quyền, cục bộ, ưu ái tuyển dụng người nhà, người thân không đủ tiêu chuẩn. Phát huy dân chủ, nâng cao ý thức trách nhiệm, nêu gương, tinh thần phục vụ nhân dân của cán bộ, công chức, viên chức. Sớm nghiên cứu, ban hành cơ chế, chính sách khuyến khích và bảo vệ những tổ chức và cá nhân dám đổi mới sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm. Các đề xuất đổi mới đúng đắn, hợp lý phải được cấp ủy, chính quyền bàn bạc, xem xét kỹ lưỡng, cho làm thí điểm theo thẩm quyền; cái gì đổi mới đúng thì phải được bảo vệ, tiếp tục triển khai; cái gì sai thì phải kịp thời chấn chỉnh, uốn nắn, sửa chữa, rút kinh nghiệm. "Phải trái phân minh", "nghĩa tình trọn vẹn"; không được "dĩ hòa vi quý". Siết chặt kỷ luật, kỷ cương hành chính, thường xuyên kiểm tra, đôn đốc, tạo chuyển biến mạnh mẽ trong thực thi công vụ; nâng cao đạo đức, văn hóa, tính chuyên nghiệp của cán bộ, công chức, viên chức. Kiên trì, kiên quyết đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực gắn với đẩy mạnh xây dựng, hoàn thiện luật pháp, cơ chế, chính sách để "không thể, không dám, không muốn, không cần tham nhũng". Đồng thời, chấn chỉnh, đấu tranh loại bỏ tư tưởng bàn lùi, vin cớ rằng việc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực sẽ cản trở sự phát triển, làm nhụt chí dẫn đến làm "cầm chừng", "phòng thủ", "che chắn", giữ "an toàn" trong một bộ phận cán bộ, công chức nào đó, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp. Tôi đã nhiều lần nói rồi; nay xin nhắc lại: Những ai có tư tưởng này thì hãy dẹp sang một bên cho người khác làm! Tiền bạc lắm làm gì, chết có mang theo được đâu; Danh dự mới là điều thiêng liêng, cao quý nhất! Thưa các đồng chí, Chúng ta tin tưởng rằng, dưới sự lãnh đạo đúng đắn, dày dạn kinh nghiệm của Đảng Cộng sản Việt Nam, kiên định con đường mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn; với sự nỗ lực, cố gắng, quyết tâm cao của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các thành viên Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương và cơ quan trực thuộc Chính phủ; với sự phối hợp chặt chẽ của các cơ quan trong bộ máy nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội; sự ủng hộ và giám sát của nhân dân; sự hợp tác và giúp đỡ của bạn bè quốc tế, Chính phủ nhiệm kỳ 2021 - 2026 nhất định sẽ phát huy những kết quả, kinh nghiệm và truyền thống vẻ vang của 75 năm qua, tiếp tục đổi mới mạnh mẽ tổ chức và phương thức hoạt động, đạt được nhiều kết quả quan trọng, đóng góp to lớn hơn nữa vào công cuộc đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hóa, đưa đất nước từng bước quá độ lên chủ nghĩa xã hội, xứng đáng với vị trí, vai trò là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất, thực hiện quyền hành pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; là cơ quan trực tiếp tổ chức, quản lý, triển khai thực hiện có hiệu quả mọi chủ trương, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam, biến đường lối, chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước thành hiện thực sinh động, mang lại ấm no, tự do, hạnh phúc cho nhân dân, làm vẻ vang cho Dân tộc, cho giống nòi. Xin chúc Chính phủ nhiệm kỳ mới 2021 - 2026: Khí thế mới, nỗ lực mới, quyết tâm phấn đấu lập nhiều thành tích mới, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao, xứng đáng với niềm tin yêu và kỳ vọng của Đảng, Nhà nước và nhân dân! Xin trân trọng cảm ơn!”

Khánh Hòa hướng dẫn khen thưởng thành tích phòng, chống dịch Covid-19

TĐKT - Ngày 29/7/2021, UBND tỉnh Khánh Hòa đã ban hành hướng dẫn nhằm giúp các cơ quan, đơn vị, địa phương có cơ sở đánh giá, biểu dương, tôn vinh khen thưởng các tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc tiêu biểu trong công tác phòng, chống dịch Covid-19 trên địa bàn. Qua đó, góp phần cổ vũ, tuyên truyền, nhân rộng các gương điển hình tiên tiến, gương người tốt, việc tốt trong phòng, chống dịch bệnh. Các tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc tiêu biểu trong công tác phòng, chống dịch Covid-19 sẽ được biểu dương, khen thưởng kịp thời Ông Văn Ngọc Sen - Phó Chủ tịch Thường trực Hội đồng Thi đua - Khen thưởng tỉnh, Phó Giám đốc Sở Nội vụ tỉnh Khánh Hòa cho biết: Đối tượng được xem xét khen thưởng là các tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc trong công tác phòng, chống dịch Covid-19. Tỉnh sẽ tập trung khen thưởng và đề nghị cấp trên khen thưởng đối với: Cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trực tiếp tham gia phòng, chống dịch tại tuyến đầu; tập thể trực tiếp tham gia phòng, chống dịch; cá nhân, tập thể, doanh nghiệp tham gia hỗ trợ, giúp đỡ trong công tác phòng, chống dịch về trang thiết bị, vật tư y tế, phương tiện, kinh phí, cơ sở vật chất; tập thể, cá nhân có ý tưởng mới, sáng tạo, tham gia cổ vũ, động viên, trợ giúp công tác phòng, chống dịch. Về tiêu chuẩn khen thưởng, tập thể, cá nhân có thành tích đặc biệt xuất sắc trong công tác phòng, chống dịch Covid-19, có phạm vi ảnh hưởng và nêu gương, lan tỏa trong toàn quốc trên các lĩnh vực: Y tế, quốc phòng - an ninh, giáo dục và đào tạo, tài chính, công thương, giao thông vận tải, nông nghiệp, khoa học và công nghệ, thông tin và truyền thông, hợp tác quốc tế, an sinh xã hội… hoặc có đóng góp lớn về vật chất, phương tiện, trang thiết bị cần thiết, góp phần tích cực vào công tác phòng, chống dịch, được cấp có thẩm quyền ghi nhận, đánh giá cao được đề nghị tặng Huân chương Lao động. Tập thể, cá nhân được đề nghị tặng Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ khi đạt các tiêu chuẩn sau: Có thành tích tiêu biểu xuất sắc trong công tác phòng, chống dịch Covid-19; hoặc có nhiều đóng góp về vật chất, phương tiện, trang thiết bị cần thiết; hoặc có ý tưởng sáng tạo, tham gia tuyên truyền, cổ vũ, góp phần tích cực vào công tác này. Có phạm vi ảnh hưởng, nêu gương, lan tỏa trong toàn tỉnh. Tập thể, cá nhân được đề nghị tặng Bằng khen của Chủ tịch UBND tỉnh khi đạt các tiêu chuẩn: Có thành tích xuất sắc trong phòng, chống dịch Covid-19; hoặc có nhiều đóng góp về vật chất, phương tiện, trang thiết bị cần thiết; hoặc có ý tưởng sáng tạo, tham gia tuyên truyền, cổ vũ, góp phần tích cực vào công tác này. Đồng thời, có phạm vi ảnh hưởng, nêu gương, lan tỏa trong toàn cấp huyện hoặc toàn sở, ban, ngành, doanh nghiệp thuộc tỉnh, MTTQ và các đoàn thể chính trị - xã hội tỉnh. Tiêu chuẩn đề nghị tặng giấy khen được thực hiện theo quy định. Các sở, ban, ngành, doanh nghiệp, MTTQ và các đoàn thể chính trị - xã hội tỉnh, UBND cấp huyện xét chọn, khen thưởng, đề nghị cấp trên khen thưởng theo nguyên tắc: Cấp nào quản lý về tổ chức, cán bộ, công chức, viên chức, người lao động và quỹ lương, cấp đó có trách nhiệm khen thưởng và trình cấp trên khen thưởng các đối tượng thuộc phạm vi quản lý. Việc đề nghị khen thưởng thực hiện theo trình tự, thủ tục đơn giản quy định tại Điều 55 Nghị định số 91 ngày 31/7/2017 của Chính phủ. Hồ sơ đề nghị khen thưởng gửi về Sở Y tế (Phòng Tổ chức - Hành chính) và gửi kèm tệp văn bản điện tử hoặc qua thư điện tử bs.dangquang@gmail.com. Sở Y tế nhận hồ sơ từ ngày 30/7/2021. Nguyễn Vũ  

Trang