Xây dựng nông thôn mới

Làm du lịch cộng đồng, Sin Suối Hồ đổi thay kỳ diệu

TĐKT - Nằm cheo leo trên đỉnh núi cao hơn 1.400 m, bản người Mông Sin Suối Hồ (xã Sin Suối Hồ, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu) tự làm du lịch cộng đồng, mỗi năm thu hút hàng nghìn lượt khách tới tham quan. Từ một bản làng có nhiều tệ nạn, Sin Suối Hồ nay đã trở thành bản du lịch không khói thuốc, sạch sẽ, văn  minh; đời sống ấm no, hạnh phúc. Theo trưởng bản Vàng A Chỉnh, trước đây Sin Suối Hồ từng là “điểm nóng” với số người nghiện ma túy khá đông. Trước năm 1992, hầu hết người dân ở Sin Suối Hồ trồng cây thuốc phiện và nghiện thuốc phiện. Thuốc phiện làm đời sống người dân nơi đây trở nên mù mịt, khốn khổ, đói rách, kiệt sức, bệnh tật, dẫn đến nhiều tệ nạn, mất an ninh trật tự. Tuy nhiên, từ năm 2005, số người nghiện đã giảm dần. Đến nay cả bản không còn người nghiện ma túy nhờ sự phát triển của du lịch cộng đồng. Từ chỗ là một bản nghèo, sau 15 năm, hiện nay nguồn thu nhập của các hộ gia đình đều tăng từ việc làm du lịch và bán các sản vật của địa phương. Đặc biệt, đi vào hoạt động được hơn 4 năm, mô hình du lịch cộng đồng sinh thái không khói thuốc với nhiều hình thức trải nghiệm mới được triển khai đã phát huy hiệu quả, ngày càng thu hút du khách và đem lại thu nhập cho người dân nơi đây. Tới đây, du khách được hòa mình vào cuộc sống của người Mông Bản Sin Suối Hồ hiện có hơn 100 hộ, trong đó có 10 hộ làm du lịch theo hình thức nghỉ dưỡng homestay. Nhiều hộ gia đình đã tự đầu tư hoặc nâng cấp nhà nghỉ để phục vụ nhu cầu ngày càng lớn của khách du lịch. Trung bình mỗi tháng có hàng trăm lượt du khách đến du lịch và nghỉ dưỡng tại bản Sin Suối Hồ, trong đó đa số là du khách nước ngoài. Du khách tới bản có thể ở cả tuần, cả tháng, cùng chia sẻ ẩm thực, văn hóa và được trải nghiệm các hoạt động: Gặt lúa, hái thảo quả, làm bánh, dệt vải… Được cùng ăn, cùng ở với chủ nhà trong không khí ấm cúng, thân thiện, du khách sẽ hiểu hơn về cuộc sống, con người và giá trị truyền thống dân tộc. Bên cạnh đó, Sin Suối Hồ cũng phát triển mô hình chợ du lịch truyền thống của người Mông, bán các sản vật của địa phương như thuốc lá, thổ cẩm, ẩm thực gắn liền với không gian trình diễn các công đoạn sản xuất đặc trưng. Một sân khấu đã được xây dựng ở trung tâm bản để biểu diễn các tiết mục văn nghệ đặc sắc. So với các khu du lịch khác, mô hình có nhiều điểm mới: Xu hướng dân làm - dân hưởng đem lại động lực phát triển kinh tế bền vững cho người dân địa phương; toàn bộ nguồn thực phẩm được sử dụng là thực phẩm sạch, không hóa chất; mô hình du lịch đậm chất văn hóa và thấm đượm bản sắc dân tộc; du lịch gắn liền với tạo sinh kế nông nghiệp cho người dân. Bản Sin Suối Hồ cũng để lại ấn tượng trong lòng du khách nhờ cộng đồng người dân đoàn kết, thân thiện, hiếu khách, sống văn minh. Bên cạnh đồ lưu niệm thông thường, Sin Suối Hồ còn phát triển thêm các sản phẩm đặc trưng như cây cảnh: Địa lan, phong lan, hoa đào và các loại cây ăn quả như mận, đào, táo mèo. Địa lan là loại cây tạo nên điểm nhấn của bản du lịch Sin Suối Hồ, mang lại thu nhập 200 – 300 triệu đồng/hộ/năm. Đến nay 100% hộ trong bản đều trồng địa lan, nhà nào ít thì mấy chục chậu, nhà nào nhiều thì khoảng 500 - 600 chậu. Vườn đào là một trong những địa điểm thu hút khách du lịch tại Sin Suối Hồ Mảnh đất từng trồng thuốc phiện khi xưa giờ đã khởi sắc với hơn 30.000 chậu địa lan, hơn 15.000 cây đào, 18.000 cây táo mèo, 10 homestay, một hợp tác xã kinh doanh nhà hàng và các loại cây cảnh, cùng với 3 phòng bungalow. Thu nhập của cả làng hơn 600 người lên đến 200 - 500 triệu đồng/hộ/năm, từ nhiều nguồn: Trồng lan, thảo quả, táo mèo, chăn nuôi dê. Du khách trải nghiệm dịch vụ homestay Để phục vụ ngày càng tốt hơn nhu cầu của du khách, những người làm du lịch cộng đồng tại Sin Suối Hồ đang ấp ủ dự định trong 3 năm tới sẽ làm thổ cẩm bằng vải lanh, vẽ sáp ong trên vải lanh tạo thành các sản phẩm riêng biệt của người Mông, người Hoa và xuất ra thị trường. Cùng với đó, tạo ra các sản phẩm hoàn toàn từ tự nhiên theo phong cách cổ truyền của người Mông như dầu gội, xà phòng, dầu rửa tay, rửa bát, thuốc tắm, thuốc diệt muỗi. 100% thực phẩm sạch từ thiên nhiên không hóa chất và hoàn toàn tự cung tự cấp. Từ sự thành công của bản Sin Suối Hồ, hiện Lai Châu đã và đang tiếp tục nhân rộng mô hình này. Đến nay, toàn tỉnh đã có 9 điểm bản du lịch cộng đồng ở hầu hết các huyện và thành phố Lai Châu. Đề án Phát triển du lịch Lai Châu giai đoạn 2016 - 2020 cũng xác định ưu tiên đầu tư phát triển sản phẩm chủ lực là du lịch cộng đồng gắn với phát huy giá trị di tích lịch sử, văn hóa danh lam thắng cảnh tại khu vực thành phố Lai Châu, huyện Phong Thổ, huyện Tam Đường. Phương Thanh  

Hiệu quả từ những chính sách đúng và trúng

TĐKT - Với những cách làm sáng tạo và hiệu quả, Thanh Hóa đã huy động được nguồn lực đáng kể đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng thiết yếu phục vụ đời sống dân sinh và đã tạo được sức mạnh toàn dân chung sức xây dựng nông thôn mới (NTM). Người dân đã hiểu rõ giá trị của chương trình NTM phục vụ cho chính mình và tích cực tham gia đóng góp tiền của, ngày công, hiến đất… xây dựng làng quê ngày càng phát triển. Sau gần 10 năm triển khai, chương trình xây dựng NTM đã bao phủ toàn diện về nông nghiệp, nông dân và nông thôn Thanh Hóa, không những góp phần thay đổi bộ mặt làng quê mà còn thay đổi nhận thức của hệ thống chính quyền cơ sở và người dân nông thôn trong nỗ lực chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp, tăng thu nhập, vươn lên làm giàu... Ngay sau khi Thủ tướng Chính phủ ban hành Chương trình Mục tiêu Quốc gia xây dựng NTM, tháng 6/2010, tỉnh Thanh Hóa đã ban hành đề án xây dựng NTM của tỉnh, đặt ra mục tiêu, nhiệm vụ chính trị cho toàn Đảng bộ, chính quyền và hệ thống chính trị trong tỉnh. Theo đó, tỉnh thành lập đồng bộ hệ thống bộ máy tổ chức chỉ đạo, điều hành từ tỉnh đến cơ sở, trong đó phân công đồng chí bí thư cấp ủy làm trưởng ban chỉ đạo; tăng cường bộ phận tham mưu giúp việc chuyên trách, chuyên nghiệp để đủ sức điều phối chương trình. Trong khi một số nội dung, vấn đề chưa có hướng dẫn hoặc còn phải chờ văn bản hướng dẫn của Trung ương, căn cứ điều kiện cụ thể của địa phương và với cách tiếp cận tự tin, sáng tạo, năm 2011, tỉnh Thanh Hóa đã chủ động ban hành hướng dẫn lập quy hoạch xã NTM 3 trong 1, gồm quy định “Lấy phiếu đánh giá về sự hài lòng của người dân”, “Quy định trình tự, thủ tục đánh giá, công nhận đạt chuẩn tiêu chí NTM”. Đặc biệt, đến đầu năm 2014, tỉnh đã ban hành “Bộ tiêu chí thôn bản NTM”. Về huy động nguồn lực, bên cạnh triển khai nghiêm việc tiếp nhận, thụ hưởng cơ chế chính sách của Trung ương, Thanh Hóa là một trong những địa phương chủ động kiến tạo khung pháp lý và sớm ban hành cơ chế chính sách riêng trong xây dựng NTM như: Để lại tiền thu từ chuyển quyền sử dụng đất, hỗ trợ đầu tư xây dựng công trình, hỗ trợ phát triển mô hình phát triển sản xuất, thưởng thôn, bản, xã, huyện đạt chuẩn NTM, trong đó, một mặt quy định mức hỗ trợ cụ thể từ ngân sách tỉnh cho thôn, xã và huyện, mặt khác đã định hướng về quyền chủ động ban hành cơ chế chính sách, huy động nguồn lực của các địa phương cấp huyện, xã. Chính vì thế, trong gần 10 năm qua, tỉnh đã huy động được hơn 56.394 tỷ đồng cho xây dựng NTM. Cùng với nguồn vốn Nhà nước hỗ trợ, các địa phương đã chủ động khai thác, huy động các nguồn nội lực trong dân, như: góp công lao động, hiến đất, vật liệu, tiền; động viên người thân thành đạt tham gia; chú trọng khai thác, huy động các nguồn từ ngân hàng, doanh nghiệp và xã hội. Từ nguồn vốn nêu trên, cùng với cách làm hiệu quả, thiết thực, toàn tỉnh đã đầu tư xây dựng mới và nâng cấp, cải tạo được 13.965 km đường giao thông nông thôn, 1.944 km giao thông nội đồng, 1.274 công trình thủy lợi nhỏ, 3.892 km kênh mương nội đồng, 12.039 phòng học các cấp, 972 trạm biến áp và 7.286 km đường dây tải điện các loại, 538 nhà văn hóa và khu thể thao xã, 3.431 nhà văn hóa thôn, 506 chợ nông thôn, 518 trạm y tế, 350 trụ sở xã, hơn 33.548 công trình cấp nước sinh hoạt, 1.960 công trình vệ sinh và xử lý môi trường nông thôn, xây mới và chỉnh trang hơn 176.055 nhà ở dân cư. Chỉ đạo các xã lựa chọn những công việc mà phần lớn người dân trong thôn, bản và trong xã thấy cần tập trung làm trước; đã khuyến khích triển khai những nội dung, tiêu chí từng thôn, bản, từng hộ dân có thể tự làm được. Mặt khác, đã tập trung cao cho nhiệm vụ phát triển sản xuất nông nghiệp, phi nông nghiệp, dịch vụ. Chú trọng dồn đổi, tập trung ruộng đất gắn với quy hoạch đồng ruộng, đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ, cơ giới hóa các khâu trong quá trình sản xuất, chế biến. Coi trọng cơ cấu lại sản xuất nông nghiệp, xây dựng, thúc đẩy các mối liên kết, hợp tác giữa nông dân với doanh nghiệp và nhà khoa học, giữa nông dân với nông dân thông qua tổ hợp tác và hợp tác xã để tăng thu nhập cho nông dân. Riêng từ nguồn vốn trực tiếp của chương trình, toàn tỉnh đã xây dựng được 1.790 mô hình sản xuất các loại. Về lĩnh vực xã hội, đã có sự quan tâm tập trung chỉ đạo công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn để nâng cao kỹ năng tay nghề, chất lượng lao động và giải quyết việc làm theo cả hai hướng phi nông nghiệp và nông nghiệp. Đây là giải pháp đột phá, căn cơ để chuyển lực lượng lao động nông nghiệp hiện đang dư thừa sang ngành nghề khác có thu nhập cao hơn. Đến nay toàn tỉnh đã có 5 huyện đạt chuẩn NTM (gồm: Yên Định, Quảng Xương, Đông Sơn, Thọ Xuân và Vĩnh Lộc), trong đó có 3 huyện đã tổ chức đón nhận (Yên Định, Quảng Xương, Đông Sơn), Thành phố Thanh Hóa đã hoàn thành nhiệm vụ xây dựng NTM. Thị xã Bỉm Sơn đã có 100% số xã đạt chuẩn NTM. Toàn tỉnh đã có 347 xã đạt 19 tiêu chí NTM, trong đó có 332 xã được công nhận đạt chuẩn, chiếm tỷ lệ 58,35% (có 23/100 xã đặc biệt khó khăn thuộc Chương trình 135 và 30a và 16/30 xã bãi ngang ven biển đạt chuẩn NTM) vượt 2,55% so với mục tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh. Bình quân toàn tỉnh đạt 16,56 tiêu chí/xã, cao hơn 1,3 tiêu chí so với bình quân chung cả nước. Thanh Hóa không còn xã nào dưới 5 tiêu chí. Hiện có 4 xã hoàn thành 15 tiêu chí NTM nâng cao và 2 xã đang xây dựng thí điểm NTM kiểu mẫu. Riêng xây dựng thôn, bản NTM có 592/1.659 thôn, bản miền núi (sau khi sáp nhập) đạt chuẩn NTM, vượt 15,68% so với mục tiêu phấn đấu của tỉnh. Mức thu nhập của người dân không ngừng được nâng cao, từ 8,9 triệu đồng/người (khu vực nông thôn) năm 2010 lên 37,6 triệu đồng năm 2018. Tỷ lệ hộ nghèo khu vực nông thôn giảm sâu, từ gần 27% (năm 2010) xuống còn 6,25% (năm 2018), bình quân giảm 2,56%/năm. Huyện Như Xuân đã thoát ra khỏi huyện nghèo theo Nghị quyết 30a, 5/100 xã và 55/181 thôn, bản hoàn thành mục tiêu Chương trình 135. Chặng đường 10 năm thực hiện Chương trình MTQG xây dựng NTM ở Thanh Hóa đã khẳng định hướng đi và cách làm đúng đắn. Đây cũng là bước tạo đà cho Thanh Hóa tiếp tục phấn đấu thực hiện thắng lợi mục tiêu của chương trình đến năm 2030 có 15 huyện trở lên và 100% số xã đạt chuẩn NTM. Bình quân toàn tỉnh đạt 19 tiêu chí/xã, 100% thôn, bản đạt chuẩn NTM, 40% số xã đạt chuẩn NTM nâng cao, 10% số xã đạt chuẩn NTM kiểu mẫu và mỗi huyện có ít nhất 5 thôn, bản NTM kiểu mẫu. Minh Phương  

Huyện Đức Trọng “thay áo mới”

TĐKT - Bắt tay vào xây dựng nông thôn mới từ năm 2011, đến nay, sau hơn 10 năm, với những cách làm sáng tạo và linh hoạt, huyện miền núi Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng đã hoàn thành chương trình xây dựng nông thôn mới (NTM) với nhiều điểm nhấn; trở thành huyện NTM thứ hai của tỉnh Lâm Đồng và cả khu vực Tây Nguyên. Mới đây, ngày 24/6/2020, Chủ tịch nước đã có Quyết định tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Ba cho Đảng bộ, chính quyền và nhân dân huyện Đức Trọng vì những thành tích xuất sắc trong phong trào thi đua “Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới” giai đoạn 2016 - 2020. Diện mạo mới từ hành động thiết thực Những ai đã từng đặt chân đến huyện Đức Trọng hơn 10 năm trở về trước, chắc chắn hôm nay khi trở lại sẽ không khỏi ngạc nhiên bởi sự vươn mình, bứt phá, bởi sự thay da đổi thịt của mảnh đất và con người nơi đây. Từ một huyện thuần nông, thu nhập bình quân đầu người thấp, chỉ đạt 23 triệu đồng/người/năm, tỷ lệ hộ nghèo còn cao, kinh tế phát triển manh mún nhỏ lẻ…, đến nay diện mạo nông thôn Đức Trọng đã thực sự đổi mới, khang trang, đời sống của nhân dân được nâng lên rõ rệt. Hiện nay, huyện Đức Trọng đang hội tụ đầy đủ các yếu tố để trở thành đô thị loại 3. Hơn 10 năm triển khai, toàn huyện đã huy động được hơn 5 nghìn tỷ đồng vào xây dựng NTM. Từ nguồn kinh phí này, hệ thống cơ sở hạ tầng giao thông, thủy lợi, trường học và các thiết chế văn hóa trên địa bàn được đầu tư nâng cấp, làm thay đổi diện mạo nông thôn theo hướng tích cực. Cảng hàng không Liên Khương huyện Đức Trọng ngày càng khai thác hiệu quả dịch vụ vận tải hàng không, góp phần mang lại hiệu quả kinh tế, xã hội to lớn. Cụ thể, các tuyến đường giao thông quan trọng của xã và từ trung tâm xã đến huyện với tổng chiều dài 184,51 km được nhựa hóa hoặc bê tông hóa đạt chuẩn theo cấp kỹ thuật của Bộ Giao thông Vận tải. Đặc biệt, thực hiện chỉ đạo của UBND tỉnh Lâm Đồng, huyện Đức Trọng đã thực hiện tốt các nhiệm vụ trọng tâm trong phát triển mạng lưới giao thông đối ngoại và kinh doanh dịch vụ giao thông vận tải. Nổi bật nhất là việc phối hợp cùng các đơn vị đảm bảo an ninh, an toàn hàng không, tạo điều kiện tốt nhất để khai thác hiệu quả dịch vụ vận tải hàng không ở Cảng hàng không Liên Khương, với sản lượng hành khách đạt trên 2 triệu, tăng gấp 10 lần năm 2009; sản lượng hàng hóa - bưu kiện vận chuyển đạt hơn 7.300 tấn, tăng gấp 10,4 lần năm 2009; 8 hãng hàng không trong nước và quốc tế hoạt động tại Cảng hàng không Liên Khương…, mang lại hiệu quả kinh tế, xã hội to lớn. Trên địa bàn huyện có 1 chợ trung tâm,  chợ đầu mối nông sản có quy mô cấp tỉnh và 1 siêu thị đang xây dựng… đảm bảo cho hoạt động buôn bán, giao thương văn minh, hiện đại. Hệ thống thủy lợi được đầu tư nâng cấp, kiên cố hóa kênh mương…, đảm bảo nhu cầu tưới tiêu trong sản xuất nông nghiệp, nhất là ở những vùng sâu, vùng xa. Hệ thống điện đảm bảo yêu cầu kỹ thuật, an toàn, đến nay, tỷ lệ hộ sử dụng điện an toàn, thường xuyên đạt 99,81%. Trên địa bàn huyện không còn hộ gia đình phải sử dụng nước ô nhiễm, xóa sổ hoàn toàn nhà dột nát; 100% các trường học công lập các cấp đều có cơ sở vật chất và trang thiết bị đạt chuẩn quốc gia, đáp ứng đủ yêu cầu dạy và học cho con em toàn huyện; 100% các xã có nhà văn hóa, khu vui chơi, trung tâm văn hóa, thể thao được bố trí đầy đủ các phòng chức năng, công trình phụ trợ và cơ sở vật chất trang thiết bị đảm bảo tổ chức các hoạt động cộng đồng thường xuyên và tổ chức các sự kiện tập trung, hội nghị toàn xã… Nhiều văn phòng một cửa điện tử, 7 điểm cầu tại các xã được đưa vào sử dụng để phục vụ yêu cầu họp trực tuyến, giảm thời gian đi lại đối với các địa phương…. Mũi nhọn trong phát triển bền vững Xác định nông nghiệp công nghệ cao gắn với xây dựng NTM là một trong những chương trình trọng tâm, góp phần đẩy nhanh tiến trình công nghiệp hóa nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn huyện nhằm tăng thu nhập và xóa đói, giảm nghèo cho người dân và phát triển kinh tế - xã hội, trong những năm qua, huyện Đức Trọng đã tập trung các giải pháp, huy động tối đa mọi nguồn lực để phát triển lĩnh vực này. Vùng trồng cà chua tập trung của người dân huyện Đức Trọng Tính đến cuối năm 2019, trên địa bàn huyện có khoảng 9,4 ha sản xuất nông nghiệp theo hướng công nghệ cao, giá trị sản xuất nông nghiệp đạt trên 242 triệu đồng/ha/năm. Đáng kể nhất trong số đó là việc hệ thống tổ chức sản xuất, kinh doanh trong nông nghiệp, nông thôn tiếp tục được đổi mới phù hợp hơn với cơ chế thị trường. Các doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ hợp tác, trang trại tiếp tục phát triển nhanh về số lượng và quy mô sản xuất và địa bàn thực hiện, kinh tế hộ cũng có nhiều chuyển biến từ kỹ năng tổ chức sản xuất, kiến thức khoa học, nguồn lực đầu tư và sự chuyên môn hóa sản xuất. Ngày càng nhiều các hình thức liên kết hình thành và phát triển, đặc biệt là mô hình chuỗi liên kết sản xuất, tiêu thụ nông sản. Thông qua đó, gắn kết được sản xuất với thị trường, ổn định và nâng cao thu nhập cho người dân. Đến nay, huyện có 26 tổ hợp tác, 4049 hộ sản xuất nông nghiệp (chiếm 15% số hộ của huyện) tham gia các hình thức liên kết và tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ. Điển hình  như các chuỗi liên kết giữa nông dân với các công ty TNHH Sản xuất và Thương mại nông sản Phong Thúy, Viên Sơn và các hợp tác xã An Phú, Tiến Huy… Nhờ đó, đến nay, thu nhập bình quân đầu người của huyện đã tăng lên rõ rệt, đạt 811,27 triệu đồng/người (năm 2019), bằng 3,53 lần so với năm 2011. Cùng với đó, huyện cũng đặc biệt chú trọng đến việc đào tạo và giải quyết việc làm cho các lao động trong địa phương. Từ năm 2011 - 2019, huyện đã giải quyết việc làm cho hơn 38 ngàn lao động, góp phần hạn chế lao động thất nghiệp, nâng cao tỷ lệ lao động có việc làm thường xuyên tạo ra thu nhập giúp cuộc sống ổn định và giảm nghèo bền vững. Chỉ trong năm 2019, tỷ lệ lao động qua đào tạo của từng xã đều đạt trên 25%. Từ sự phát triển của kinh tế, công tác y tế của huyện cũng có nhiều tiến bộ trong việc hạn chế đến mức thấp nhất số người mắc và chết do dịch bệnh. Đội ngũ y, bác sĩ được tăng cường cả về số lượng và chất lượng. Chính sách dân số và bảo hiểm y tế được đặc biệt quan tâm, trong đó 100% hộ nghèo, hộ cận ngèo được cấp thẻ BHYT, nâng tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế từ 43,7% năm 2011 lên 85,2% năm 2019. Tỷ lệ hộ nghèo của huyện hiện nay chỉ còn 0,81%... Tuy là địa phương có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống (33,4% dân số), với 4 tôn giáo chính, tỷ lệ đồng bào theo các tôn giáo chiếm 47,57% dân số, song nhờ xây dựng được hệ thống chính trị vững mạnh, phát huy tính dân chủ, thượng tôn pháp luật…, tình hình an ninh chính trị, an toàn xã hội luôn được đảm bảo, nhân dân đoàn kết, bác ái. Với những nỗ lực toàn diện, không ngừng, đến nay, 14/14 xã trên địa bàn huyện Đức Trọng đã được công nhận đạt chuẩn NTM; thị trấn Liên Nghĩa được công nhận văn minh đô thị. Đặc biệt, ngày 14/4/2020, huyện Đức Trọng đã được Thủ tướng Chính phủ công nhận huyện đạt chuẩn Nông thôn mới. Nhìn lại chặng đường đã qua trong phong trào xây dựng NTM, chính quyền và nhân dân huyện Đức Trọng thực sự đáng tự hào. Đó không chỉ là thành quả của sự nỗ lực, đoàn kết của toàn thể cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân trong huyện mà còn là sự quan tâm chỉ đạo, hỗ trợ kịp thời của các cấp, ngành trung ương, của tỉnh và cộng đồng các doanh nghiệp. Trong thời gian tới, 100% số xã của huyện sẽ tiếp tục đẩy mạnh nâng cao chất lượng tiêu chí nông thôn mới, trong đó có 4 xã đang ký xây dựng xã NTM nâng cao, NTM kiểu mẫu. Đây vừa là thời cơ, vừa là thách thức để Đảng bộ và nhân dân huyện Đức Trọng gặt hái được nhiều thành công hơn nữa trong chặng đường đổi mới và phát triển. Mai Thảo  

Quảng Nam: Xây dựng nông thôn mới từ những cách làm hay

TĐKT - Ngay sau khi Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1620/QĐ-TTg ngày 20/9/2011 về tổ chức thực hiện phong trào thi đua “Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới”, phong trào đã được lãnh đạo Tỉnh ủy, Ủy ban  nhân dân tỉnh Quảng Nam quan tâm chỉ đạo quyết liệt từ tỉnh đến cơ sở. Từ cuối năm 2011, Ủy ban nhân dân tỉnh chính thức phát động phong trào thi đua “Quảng Nam chung sức xây dựng NTM”, xây dựng và ban hành kế hoạch tổ chức thực hiện đi vào chiều sâu. Khu dân cư NTM kiểu mẫu xã Tiên Cảnh, huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam Hưởng ứng phong trào, các tổ chức chính trị - xã hội đã tích cực vận động các thành viên, hội viên tham gia thực hiện. Mặt trận Tổ quốc tỉnh chỉ đạo tiếp tục đẩy mạnh thực hiện cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư” gắn với xây dựng NTM. Ban Dân vận Tỉnh ủy đã triển khai nhiều mô hình phong trào “Dân vận khéo”. Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh đã chỉ đạo triển khai nhiều mô hình, góp công sức, kinh phí thực hiện có hiệu quả Cuộc vận động “5 không, 3 sạch” trong xây dựng NTM như: Xây dựng “Công trình đường giao thông nông thôn”, “Đoạn đường phụ nữ tự quản về vệ sinh môi trường”, “Những bông hoa đời thường”, phong trào “Túi rác tiết kiệm”, “Phụ nữ chung sức xây dựng NTM ”... Tỉnh đoàn Quảng Nam với phong trào “Thanh niên Quảng Nam chung tay xây dựng NTM ”. Hội Nông dân tỉnh, Hội Người cao tuổi, Hội Cựu chiến binh tỉnh đã phát động các cuộc vận động, tổ chức tập huấn, tuyên truyền cho các hội viên và người dân; tổ chức ký các chương trình phối hợp, giao ước thi đua giữa các tổ chức đoàn, hội và với các cơ quan, đơn vị, địa phương trong việc thực hiện phong trào xây dựng nông thôn mới. Các huyện, thành phố và các xã trong tỉnh đã cụ thể hóa, phát động các phong trào thi đua gắn với điều kiện thực tế địa phương. Công tác tuyên truyền, vận động được đẩy mạnh với nhiều nội dung và hình thức phong phú, được các cấp, các ngành, các địa phương, các đơn vị quân đội, công an tích cực hưởng ứng, tham gia. Các cấp ủy Đảng, chính quyền đã làm tốt công tác tư tưởng cho cán bộ, đảng viên, nhất là đối với cán bộ cấp thôn và các tầng lớp nhân dân trên địa bàn tỉnh. Trước hết phải kể đến trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy, chính quyền và vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên trong Đảng bộ xã, thị trấn, huyện được phát huy theo tinh thần “Đảng viên đi trước, gương mẫu để quần chúng noi theo”: Tham gia đóng góp ngày công lao động trong xây dựng các công trình giao thông nông thôn, nhà văn hóa…, gương mẫu thực hiện nếp sống văn hóa khu dân cư, xây dựng gia đình văn hóa, gia đình hiếu học… Trong các buổi, đợt, hội nghị tuyên truyền về học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, các cấp ủy Đảng thường xuyên lồng ghép nội dung thực hiện phong trào xây dựng NTM. Quy hoạch sắp xếp dân cư gắn với xây dựng NTM xã Lăng, huyện Tây Giang Qua thực hiện phong trào, trên bàn tỉnh Quảng Nam đã xuất hiện một số cách làm hay, sáng tạo, phù hợp với địa phương như: Phong trào “phát huy nội lực, hiến đất, góp công xây dựng đường giao thông nông thôn theo tiêu chí NTM”, phong trào “xóm làng huy động nhân dân cải tạo, chỉnh trang nhà ở, cải tạo ao, vườn, cổng, ngõ, tường rào xanh - sạch - đẹp; phong trào “Sáng - Xanh đường làng”; phong trào “Toàn dân xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư” gắn với xây dựng Khu dân cư nông thôn mới kiểu mẫu và vườn mẫu; phong trào “Nhà sạch - Vườn đẹp - Môi trường trong lành - Ngõ xóm văn minh’’; mô hình “Sáng - Xanh - Sạch - Đẹp”, “Tiếng kẻng an ninh”... Bên cạnh đó, tỉnh Quảng Nam cũng cụ thể hóa Cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng NTM, đô thị văn minh” thành phong trào “Xây dựng gia đình 5 không 3 sạch” đi vào chiều sâu; đã lựa chọn 2/5 tiêu chí “Không” và 2/3 tiêu chí “Sạch” để chỉ đạo thống nhất chung trên toàn tỉnh (gồm: Không đói nghèo, Không bạo lực gia đình; Sạch từ nhà ra ngõ, Sạch từ ngõ ra đường) và các tiêu chí còn lại giao Hội Liên hiệp Phụ nữ cấp huyện lựa chọn phù hợp với điều kiện, tình hình thực tế tại địa phương. 100% cơ sở Hội đã đăng ký với cấp ủy, chính quyền địa phương thực hiện ít nhất một hoạt động thiết thực góp phần xây dựng NTM, đô thị văn minh (mô hình: Chi hội phụ nữ 5 không, 3 sạch kiểu mẫu xây dựng NTM; làng quê không rác thải; nhà sạch, vườn đẹp; đường hoa thay cỏ dại; trồng bồn hoa, cây cảnh tại các nhà văn hóa thôn; hỗ trợ phụ nữ xây dựng các công trình vệ sinh...) được cấp ủy, chính quyền địa phương đánh giá cao; toàn tỉnh có 293.444/378.631 hộ gia đình đạt 8 tiêu chí (đạt tỷ lệ 77,5%). Riêng giai đoạn 2016 - 2019, toàn tỉnh có hơn 150 mô hình “Dân vận khéo”, 1.565 mô thực hiện Cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh”, 744 mô hình phát triển kinh tế, 493 mô hình bảo vệ môi trường nông thôn và hàng trăm mô hình trên các lĩnh vực đời sống xã hội.... có hiệu quả và được nhân rộng. Từ phong trào thi đua chung sức xây dựng NTM, đã xuất hiện nhiều gương điển hình tiên tiến tích cực đóng góp công sức, tiền của, đất đai, tài sản như: Hộ gia đình ông Trần Minh Thu, xã Trà Bui, huyện Bắc Trà My đã có 3 lần hiến hơn 4000 m2 đất để xây dựng trường học. Từ quan niệm “Việc làng, đất vàng cũng hiến”, ông Hồ Văn Vàng, người dân tộc Ca Dong tại thôn 2, xã Trà Vân, huyện Nam Trà My tự nguyện hiến hơn 6.000 m2 đất làm đường và xây nhà tái định cư cho dân làng, góp phần giúp bà con ổn định cuộc sống. Ông Lê Tất Dũng, xã Đại An, huyện Đại Lộc đã bỏ ra hơn 300 triệu đồng và công sức xây dựng cây cầu phao cho người dân đi lại… Với nhiều cách làm hay, mô hình sáng tạo, phong trào thi đua Cả nước chung sức xây dựng NTM tại Quảng Nam đã đạt được những kết quả nổi bật. Đến nay, bộ mặt nông thôn Quảng Nam đã có nhiều khởi sắc và chuyển biến theo chiều hướng tích cực; đời sống vật chất, tinh thần của người dân ngày càng nâng lên; hình thành và nhân rộng nhiều mô hình sản xuất, kinh doanh có hiệu quả; kết cấu hạ tầng thiết yếu nông thôn từng bước được hoàn thiện; lĩnh vực văn hóa, giáo dục, y tế, môi trường và an toàn thực phẩm có chuyển biến tích cực; hệ thống chính trị được củng cố; quốc phòng và an ninh trật tự được giữ vững. Kết quả thực hiện các mục tiêu, chỉ tiêu trong Chương trình NTM đảm bảo đạt theo Nghị quyết Đại hội đảng bộ tỉnh Quảng Nam lần thứ XXI đề ra. Sau gần 10 năm triển khai thực hiện, Quảng Nam đã có 85 xã được công nhận đạt chuẩn NTM (đạt tỷ lệ 41,67% tổng số xã), không còn xã dưới 5 tiêu chí. Huyện Phú Ninh và thị xã Điện Bàn được công nhận đạt chuẩn NTM năm 2015; bình quân chung số tiêu chí đạt chuẩn của toàn tỉnh là 14,27 tiêu chí/xã (tăng 11,66 tiêu chí/xã so với năm 2010); có 58 thôn được công nhận đạt chuẩn khu dân cư NTM kiểu mẫu. Thu nhập bình quân đầu người ở khu vực nông thôn đạt 31,58 triệu đồng/năm (tăng 21,4 triệu đồng/người so với năm 2010), tỷ lệ hộ nghèo giảm còn 7,57% (giảm 24,2% so với năm 2010). Phát huy những kết quả đã đạt được, tỉnh Quảng Nam xác định xây dựng NTM giai đoạn 2021 - 2030 với phương châm: “Xây dựng NTM là quá trình thường xuyên, liên tục, có điểm khởi đầu, nhưng không có điểm kết thúc”; từ xã NTM, lên xã NTM nâng cao, rồi xã NTM kiểu mẫu... xây dựng khu, thôn, xóm, hộ NTM kiểu mẫu. Đó là cách làm, là bước đi để hướng tới đạt xã NTM kiểu mẫu, huyện NTM kiểu mẫu, góp phần nâng cao chất lượng đời sống của người dân nông thôn. Nguyệt Hà  

Vĩnh Lộc phát triển kinh tế - xã hội bền vững từ xây dựng nông thôn mới

TĐKT - Những ngày tháng Năm lịch sử, nắng như đổ lửa, nhưng thời tiết không giảm được khí thế và nhiệt huyết của chúng tôi về Vĩnh Lộc nơi miền đất có nhiều di tích lịch sử, có Thành nhà Hồ một di tích quốc gia nổi tiếng đã được thế giới ghi nhận, nơi có nhiều tiềm năng trong xây dựng nông thôn mới và phát triển kinh tế xã hội bền vững. Làng nghề mây tre đan xuất khẩu xã Vĩnh Hòa (ảnh: Minh Thành) Vĩnh Lộc là huyện trung du miền núi của tỉnh, cách thành phố Thanh Hóa 45 km về phía Tây; tổng diện tích tự nhiên 15.772,03 ha, trong đó diện tích đất nông nghiệp 11.262,5 ha; dân số 85.873 người, có 2 dân tộc chủ yếu là Kinh và Mường; toàn huyện có 15 xã và 1 thị trấn (trong đó có 6 xã miền núi). Năm 2010 Vĩnh Lộc triển khai thực hiện Chương trình Mục tiêu Quốc gia (MTQG) xây dựng nông thôn mới với mục tiêu xây dựng huyện có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội từng bước hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển công nghiệp, dịch vụ và du lịch; gắn phát triển nông thôn với đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn dân chủ, ổn định; môi trường sinh thái được bảo vệ; an ninh trật tự được giữ vững; đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao. Sau 10 năm triển khai thực hiện Chương trình MTQG xây dựng NTM, đến nay diện mạo nông thôn của huyện Vĩnh Lộc đã có sự thay đổi toàn diện, mạnh mẽ. Tháng 11 năm 2019, Vĩnh Lộc được Chính phủ công nhận huyện đạt chuẩn nông thôn mới. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực. Sản xuất nông nghiệp phát triển theo hướng công nghiệp, liên kết sản xuất hàng hóa, ứng dụng công nghệ cao, đảm bảo an toàn thực phẩm ngày càng hiệu quả. Đã xuất hiện nhiều mô hình kinh tế có hiệu quả cao. Đặc biệt, nhận thức của người nông dân đã từng bước chuyển sang tư duy sản xuất hàng hóa. Quy mô, chất lượng giáo dục - đào tạo giữ vững và ổn định. Thu nhập bình quân đầu người của huyện tăng 3,17 lần so với năm 2010. Giá trị xuất khẩu tăng từ 2,55 triệu USD năm 2010 lên 57 triệu USD năm 2018. Tổng thu ngân sách trên địa bàn tăng từ 29,8 tỷ đồng năm 2010 lên 263,17 tỷ đồng năm 2018. Huy động vốn đầu tư tăng từ 365 tỷ đồng năm 2010 lên 1.135 tỷ đồng năm 2018. Tỷ lệ thôn đạt tiêu chuẩn văn hóa tăng từ 54,68% năm 2010 lên 100% năm 2019. Tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 24,43% năm 2010 xuống còn 4,12% năm 2019… Năm 2018, huyện Vĩnh Lộc được xếp thứ nhất trong Cụm thi đua số 2 của tỉnh (gồm 8 huyện), tăng 2 bậc so với năm 2010. Hệ thống cơ sở hạ tầng nông thôn được đầu tư đồng bộ và ngày càng hoàn thiện: Giao thông, thủy lợi đáp ứng yêu cầu đi lại thuận tiện và thuận lợi cho sản xuất; trường, trạm, nhà văn hóa các thôn được đầu tư xây dựng khang trang, chợ nông thôn được xây mới, nâng cấp, đáp ứng nhu cầu giao thương, buôn bán của người dân, tạo điều kiện cho phát triển kinh tế. Công tác xây dựng Đảng, chính quyền, đoàn thể vững mạnh; công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho cán bộ, đảng viên; đánh giá, quy hoạch, đào tạo và sử dụng cán bộ được quan tâm; công tác kiểm tra, giám sát trong Đảng được duy trì. Tình hình quốc phòng, an ninh được củng cố vững chắc, an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội luôn được duy trì ổn định. Có thể khẳng định nhờ có chủ trương xây dựng NTM của Đảng và Nhà nước, đến thời điểm này, tình hình nông thôn của Vĩnh Lộc ổn định, nhân dân tin tưởng vào sự lãnh đạo của các cấp ủy đảng, sự điều hành của chính quyền, sự đồng thuận của cả hệ thống chính trị; không có đơn thư khiếu nại, tố cáo, phản ánh liên quan đến thực hiện Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới. Mô hình sản xuất dược liệu sâm báo Theo bà Vũ Thị Hương, Chủ tịch UBND huyện cho biết:  Phát huy kết quả đạt được, Vĩnh Lộc phấn đấu đến hết năm 2020 có 3 xã hoàn thành bộ tiêu chí xã NTM nâng cao, 1 xã đạt chuẩn xã NTM kiểu mẫu. Từng bước xây dựng huyện Vĩnh Lộc đạt chuẩn huyện NTM kiểu mẫu gắn với phát triển du lịch. Huy động mọi nguồn lực tập trung phát triển kinh tế - xã hội, phấn đấu tốc độ tăng giá trị sản xuất bình quân của huyện đạt 15% trở lên; cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng, trong đó: nông - lâm - thủy sản: 24,8%, công nghiệp - xây dựng: 40,7%; dịch vụ - thương mại: 34,5%. Từng bước nâng cao chất lượng đời sống vật chất và tinh thần của người dân. Phấn đấu đến năm 2020 thu nhập bình quân đầu người đạt trên 46 triệu đồng/người/năm, cơ bản không còn hộ nghèo NTM. Tiếp tục hoàn thiện cơ sở hạ tầng, kinh tế - xã hội, tập trung xây dựng hạ tầng phục vụ sản xuất nông nghiệp hàng hóa, ưu tiên phát triển sản xuất theo chuỗi giá trị, nhất là nông nghiệp sạch, an toàn gắn với phát triển du lịch, thực hiện hiệu quả chương trình mỗi xã một sản phẩm (OCOP). Khai thác, phát huy, sản phẩm phẩm văn hóa; đẩy mạnh bảo vệ môi trường, cảnh quan khu dân cư, đảm bảo an ninh trật tự trên các lĩnh vực, nâng cao thu nhập, chất lượng cuộc sống trong nhân dân. Mục tiêu cụ thể đến năm 2030 có 8 xã đạt chuẩn NTM nâng cao, 11 xã NTM kiểu mẫu. Thu nhập bình quân đầu người, ước đến năm 2025 đạt 80 triệu đồng/người/năm. Tỷ lệ hộ nghèo giảm còn 0,5%. Tỷ lệ dân số tham gia bảo hiểm y tế đạt trên 97 %. Tỷ lệ hộ được sử dụng nước sạch đạt trên 100%. Để đạt được mục tiêu chung huyện đề ra một số nhiệm vụ giải pháp thực hiện đó là: Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo phát triển kinh tế - xã hội trên tất cả các lĩnh vực. Trong lĩnh vực nông nghiệp tập trung đẩy mạnh tái cơ cấu theo quy mô lớn, công nghệ cao, theo chuỗi giá trị theo nghị quyết số 13-NQ/TU ngày 11/01/2019 của BCH Đảng bộ tỉnh; chỉ đạo thực hiện nhân rộng các mô hình đã có hiệu quả, để thúc đẩy phát triển sản xuất nông nghiệp, nâng cao thu nhập cho người dân. Tập trung xây dựng các mô hình phát triển nông nghiệp, ứng dụng cao gắn với phát triển du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng, quan tâm thu hút, kêu gọi nhà đầu tư đề xuất với tỉnh về cơ chế chính sách hỗ trợ để phát huy tiềm năng, lợi thế của Di sản văn hóa thế giới Thành Nhà Hồ. Tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh để thu hút doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn, du lịch sinh thái, lĩnh vực tiểu thủ công nghiệp, tạo môi trường thuận lợi để tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, để đẩy mạnh sản xuất, kinh doanh. Tập trung chỉ đạo công tác bảo vệ an toàn thực phẩm và bảo vệ môi trường, trong đó chỉ đạo việc thực hiện nghiêm các tiêu chí về an toàn thực phẩm ở các xã, thị trấn; giải quyết tốt vấn đề xử lý rác thải, vệ sinh môi trường nông thôn, đảm bảo duy trì thường xuyên. Tiếp tục thu hút, đa dạng hóa các nguồn lực, trong đó, chú trọng khai thác sử dụng hiệu quả nguồn lực, thu hút, khai thác quỹ đất để xây dựng kết cấu hạ tầng và nâng cao các tiêu chí. Do có định hướng tốt và nhiệm vụ giải pháp cụ thể nên 6 tháng đầu năm 2020 mặc dù khó khăn do đại dịch Covid-19 và thời tiết khắc nghiệt nhưng kinh tế xã hội của Vĩnh Lộc vẫn phát triển bền vững. Tốc độ tăng giá trị sản xuất (theo giá 2010) ước đạt 11,01% (KH năm 15,4%), giảm 3,03% so với cùng kỳ do kinh tế chịu ảnh hưởng của đại dịch Covid-19. Trong đó: Ngành Nông, Lâm, Thủy sản tăng: 2,27% (CK tăng 4,36%); Công nghiệp - Xây dựng tăng 16,3% (CK tăng 20,51%); các ngành dịch vụ tăng 14,57% (CK tăng 18,85%). Các ngành, lĩnh vực đã dần phát triển ổn định trở lại. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ ước đạt 879,2 tỷ đồng, bằng 44,6% KH, tăng 15,9% so với cùng kỳ. Các chỉ tiêu về chợ an toàn thực phẩm tiếp tục được duy trì, các cửa hàng kinh doanh thực phẩm an toàn được chỉnh trang, cải tạo và sắp xếp lại hoạt động đáp ứng các yêu cầu về an toàn thực phẩm. Chỉ đạo thực hiện tốt việc kiểm soát thị trường, chống buôn lậu hàng giả, hàng kém chất lượng, gian lận thương mại. Kiểm tra, xử lý 7 vụ, nộp ngân sách nhà nước 15,2 triệu đồng. An ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội được bảo đảm, không xảy ra tai nạn giao thông nghiêm trọng. UBND huyện đã chỉ đạo quyết liệt, đồng bộ, chặt chẽ các giải pháp phòng chống dịch bệnh, các nhiệm vụ trọng tâm thường xuyên về phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh được thực hiện phù hợp với diễn biến, tình hình của dịch bệnh. Thu ngân sách nhà nước tại địa bàn vượt so với chỉ tiêu UBND tỉnh giao. Chế độ chính sách được thực hiện đầy đủ, kịp thời, đặc biệt là đảm bảo đời sống cho người dân trước tình hình dịch bệnh Covid-19; kiểm soát tốt dịch bệnh, không để dịch xảy ra trên địa bàn. Với những thành tích kết quả và kinh nghiệm đạt được trong 10 năm qua, trong thời gian tới Vĩnh Lộc kiên quyết khắc phục bằng được những tồn tại, hạn chế trong xây dựng NTM, quyết tâm vượt qua khó khăn, thử thách, thực hiện thắng lợi Chương trình MTQG xây dựng NTM ở giai đoạn tiếp theo, đồng thời với đẩy mạnh phát triển kinh tế xã hội bền vững. Anh Minh

An Giang: Khởi sắc từ xây dựng nông thôn mới

TĐKT - Sau 10 năm xây dựng nông thôn mới (NTM), nông thôn An Giang đã “khoác chiếc áo mới” với cơ sở hạ tầng được đầu tư khang trang, chất lượng, giáo dục, y tế hiện đại, mang lại sự hài lòng cho nhân dân. Xác định xây dựng NTM là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của cả hệ thống chính trị, khi triển khai thực hiện, An Giang đã chọn giải pháp tối ưu, phù hợp với điều kiện xuất phát điểm của địa phương. Cùng với cả nước, An Giang bắt tay vào xây dựng NTM từ năm 2010. Là tỉnh có xuất phát điểm thấp, nhưng với tinh thần đoàn kết trên dưới một lòng của cả hệ thống chính trị, tỉnh đã thành công trong xây dựng NTM giai đoạn 2010 - 2020 và trở thành một trong hai tỉnh dẫn đầu (An Giang, Hậu Giang) phong trào xây dựng NTM khu vực đồng bằng sông Cửu Long với nhiều mô hình mới, cách làm hay, sáng tạo. Những tuyến đường hoa ở An Giang Theo ông Nguyễn Sĩ Lâm, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh An Giang: Để triển khai thực hiện có hiệu quả phong trào, An Giang đã chọn xã điểm, huyện điểm để chỉ đạo thực hiện, rồi rút kinh nghiệm và nhân rộng cho các địa phương khác. Cũng trong quá trình xây dựng NTM, tỉnh tập trung phát triển liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị; thực hiện đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp, đẩy mạnh chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo hướng công nghệ cao, nhằm nâng cao thu nhập, tạo sự ổn định khu vực nông thôn. Một số mô hình liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị như “Cánh đồng lớn”, chuỗi giá trị, rau màu, thủy sản… mang lại nhiều hiệu quả tích cực, giá trị sản xuất nông nghiệp không ngừng nâng lên. Từ đó, tạo điều kiện nâng cao thu nhập, đời sống vật chất và tinh thần cho người dân. Thực hiện cánh đồng lớn giai đoạn 2010 - 2019, có khoảng 6 - 10% sản lượng lúa và các loại nông sản chủ lực khác của An Giang được các doanh nghiệp và các tổ chức đại diện của nông dân thực hiện liên kết tiêu thụ thông qua hợp đồng. Mỗi năm trung bình có khoảng 20 doanh nghiệp tham gia ký hợp đồng liên kết tiêu thụ nông sản với nông dân. Riêng năm 2019, tỉnh thực hiện hợp đồng liên kết sản xuất và tiêu thụ lúa với diện tích 40.244 ha đạt khoảng 6% diện tích gieo trồng cả tỉnh. Bên cạnh đó, các chuỗi giá trị lúa gạo, rau màu và thủy sản cũng hình thành và phát triển cùng với các hình thức liên kết sản xuất, góp phần ổn định lĩnh vực nuôi và chế biến thủy sản, đưa mô hình “cánh đồng lớn” đi vào thực chất. Sản xuất trồng trọt cũng đã có sự chuyển dịch rõ nét, chuyển từ đất trồng lúa kém hiệu quả sang trồng các loại cây trồng có giá trị kinh tế cao như xoài, các loại cây ăn trái khác. Diện tích gieo trồng lúa năm 2013 từ hơn 641.000 ha, đến năm 2019 giảm còn khoảng 620.000 ha. Trong giai đoạn 2010 - 2019, tổng nguồn vốn huy động thực hiện chương trình xây dựng NTM tại An Giang gần 14.800 tỷ đồng. Trong đó, vốn ngân sách Trung ương là hơn 2.800 tỷ đồng, chiếm 18,99%. Với nguồn ngân sách Trung ương hỗ trợ, An Giang đã và đang triển khai thi công 677 danh mục công trình, chủ yếu là xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất nông nghiệp và phát triển kinh tế - xã hội địa phương. Tính đến tháng 3/2020, An Giang đã có 3 đơn vị cấp huyện hoàn thành xây dựng NTM; trong đó có 1 huyện NTM (huyện Thoại Sơn), 2 thành phố hoàn thành nhiệm vụ xây dựng NTM (TP Châu Đốc và TP Long Xuyên) được Thủ tướng Chính phủ công nhận. Hiện tỉnh có 61/119 xã đạt chuẩn NTM (chiếm 51,26%), tăng 48 xã so với giai đoạn (2011 – 2015) và hoàn thành sớm hơn 1 năm so với lộ trình; 6 xã đạt 15 - 18 tiêu chí; 48 xã đạt 10 - 14 tiêu chí, 4 xã đạt 9 tiêu chí; không còn xã dưới 9 tiêu chí. Nhờ các chính sách đột phá, đời sống vật chất, tinh thần của dân cư nông thôn được cải thiện, thu nhập bình quân đầu người ở nông thôn đạt gần 42 triệu đồng (tăng gấp 3 lần so với năm 2010). Theo chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều giai đoạn 2016 - 2020, đến đầu năm 2020, An Giang còn 14.170 hộ nghèo (chiếm 2,63%); hộ cận nghèo có 29.414 hộ (chiếm 5,45%); hộ nghèo người dân tộc thiểu số là 3.318 hộ (chiếm 12,21%/tổng số hộ dân tộc thiểu số). Cuối năm 2020, An Giang phấn đấu có 14 xã đạt chuẩn xã NTM nâng cao. Giai đoạn 2021 - 2025, tỉnh phấn đấu có thêm 28 xã đạt chuẩn NTM; có thêm 2 huyện (huyện Chợ Mới và Châu Thành) đạt chuẩn NTM; có ít nhất 3 xã/huyện phấn đấu đạt chuẩn xã NTM nâng cao; 75% các ấp trên địa bàn xã đặc biệt khó khăn, xã biên giới đạt chuẩn Bộ tiêu chí “Ấp NTM”. Thu nhập bình quân khu vực nông thôn của các xã NTM đạt 65 triệu đồng/người/năm; mức giảm tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn đa chiều bình quân 0,5%/năm… Tuệ Minh

Xã Hương Trà (huyện Hương Khê, Hà Tĩnh): Điển hình trong xây dựng nông thôn mới kiểu mẫu

TĐKT - Hòa nhịp với xu thế đi lên của huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh và đất nước, xã Hương Trà đã bứt phá mạnh mẽ, trở thành một vùng quê phát triển toàn diện và đáng sống. Năm 2015, xã được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới (NTM), năm 2018 được công nhận xã NTM nâng cao và hiện đang là địa phương điển hình trong xây dựng, hoàn thiện NTM kiểu mẫu. Xác định xây dựng NTM là không có điểm dừng, từ sau khi đạt chuẩn nông thôn mới đến nay, xã Hương Trà vẫn tiếp tục phấn đấu nâng cao hơn nữa các tiêu chí NTM và luôn là một điểm sáng, là điểm tham quan, học tập kinh nghiệm trong xây dựng NTM của cả nước, đặc biệt là xây dựng khu dân cư (KDC) NTM kiểu mẫu, vườn mẫu. Từ năm 2014 đến nay, xã đã đón tiếp trên 1.000 đoàn khách từ tỉnh bạn, huyện bạn về tham quan, học tập kinh nghiệm. Trong 5 năm, xã đã huy động được trên 11.597 triệu đồng để xây dựng NTM, trong đó nhân dân đóng góp trên 3.000 triệu đồng, chiếm 15,7%; tiếp tục củng cố KDC kiểu mẫu thôn Nam Trà và xây dựng thêm 6 KDC đạt 10/10 tiêu chí; vận động được 319 hộ gia đình xây công trình vệ sinh tự hoại, di dời 182 công trình chăn nuôi. UBND xã Hương Trà Song kết quả xây dựng NTM chỉ là một trong số những thành tựu đáng ghi nhận mà nhân dân và cán bộ xã Hương Trà đạt được. Đồng chí Phan Thế Hòa - Chủ tịch UBND xã cho biết: “Hiện nay, Hương Trà đã phát triển toàn diện về kinh tế - xã hội, trở thành một địa phương đáng sống. Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm đạt trên 15%, riêng năm 2019 đạt trên 15,6%. Cơ cấu kinh tế từng bước chuyển dịch theo hướng tăng dần tỷ trọng công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, thương mại - dịch vụ, giảm dần tỷ trọng nông nghiệp. Thu nhập bình quân đầu người năm 2019 đạt 50,26 triệu đồng/người/năm, tăng 64,4% so với năm 2014. Thu ngân sách trên địa bàn hàng năm đạt chỉ tiêu huyện giao”. Cùng với sự phát triển về kinh tế, lĩnh vực văn hóa - xã hội có nhiều tiến bộ. Năm 2019 vừa qua, xã có 827/917 hộ gia đình văn hóa, đạt tỷ lệ  90,1%; 464/917 hộ gia đình thể thao, chiếm tỷ lệ 50,5%. Chất lượng giáo dục từng bước được nâng lên, duy trì giữ vững trường chuẩn Quốc gia. Chất lượng khám, chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân được chú trọng. Xã triển khai có hiệu quả công tác phòng, chống dịch bệnh, vệ sinh ATTP, thực hiện đầy đủ các Chương trình mục tiêu Quốc gia về y tế được tăng cường. Từ 2014 đến nay, không có dịch, ngộ độc thực phẩm nào xảy ra trên địa bàn. Tỷ lệ người dân tham gia bảo hiểm y tế đạt 95,2% tăng 15,2% so với năm 2014, cao hơn tỷ lệ huyện 9,6%; tỷ lệ người dân có hồ sơ quản lý sức khỏe điện tử đạt 92%. Chế độ, chính sách cho người có công và các đối tượng bảo trợ xã hội được thực hiện hiệu quả, kịp thời. Nhờ đó, năm 2019, xã còn 2 hộ nghèo(chiếm 0,22%), thấp hơn mức bình quân chung của huyện (6,7%) và 16 hộ cận nghèo (chiếm 1,7%). Hương Trà hôm nay đã có nhiều đổi thay, hình ảnh xã miền núi còn nhiều khó khăn ngày nào đã lùi xa, nhường chỗ cho một trong những địa phương phát triển bậc nhất huyện Hương Khê. Với những thành tựu đạt được trong xây dựng và phát triển quê hương, nhân dân và cán bộ xã Hương Trà đã vinh dự được Chủ tịch nước tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Ba; Thủ tướng Chính phủ tặng Bằng khen về thực hiện phong trào “Cả nước chung sức xây dựng NTM” giai đoạn 2011 - 2015; UBND tỉnh Hà Tĩnh tặng danh hiệu Tập thể lao động xuất sắc, cùng nhiều Cờ thi đua và Bằng khen. Đặc biệt, xã hiện đang được Chủ tịch nước xét tặng Huân chương Lao động hạng Nhì cho những thành tích nổi bật 5 năm qua. Phần thưởng cao quý này sẽ là động lực quan trọng để mỗi người con Hương Trà tiếp tục phấn đấu đưa quê hương phát triển, hoàn thiện mục tiêu nông thôn mới kiểu mẫu và vững bước đi lên cùng đất nước. Minh Quân  

Xung kích, tích cực góp sức xây dựng nông thôn mới

TĐKT - Phát huy vai trò xung kích “Đâu cần thanh niên có, đâu khó có thanh niên”, trong những năm qua, các cấp bộ đoàn của tỉnh Ninh Bình đã có nhiều hoạt động thiết thực, ý nghĩa nhằm tập hợp, đoàn kết, phát huy sức trẻ trong tham gia xây dựng nông thôn mới (NTM), góp phần xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp. Tuổi trẻ Ninh Bình tích cực tham gia phong trào xây dựng NTM Thực hiện phương châm “Cụ thể, hiệu quả, phù hợp”, Tỉnh đoàn Ninh Bình đã thường xuyên lãnh đạo, chỉ đạo các cấp bộ Đoàn triển khai đồng bộ nhiều nội dung nhằm phát huy tinh thần xung kích, tình nguyện của đoàn viên, thanh niên (ĐVTN) trên các lĩnh vực công tác, lao động sản xuất, góp phần xây dựng NTM. Theo đó, các cấp bộ Đoàn đã thường xuyên tổ chức phổ biến các chỉ thị, nghị quyết của Trung ương, Đảng bộ tỉnh về xây dựng NTM đến ĐVTN. Đẩy mạnh tuyên truyền về NTM thông qua các buổi giao lưu văn hóa, văn nghệ, hoạt động tình nguyện và sinh hoạt chi đoàn. Tổ chức Đoàn các cấp cũng chủ động lựa chọn và thực hiện công trình, phần việc cụ thể, sát thực tế, tập trung vào những tiêu chí chưa đạt của địa phương. Đồng chí Đinh Thị Phượng, Bí thư Tỉnh đoàn Ninh Bình cho biết: Để triển khai phong trào xây dựng NTM có hiệu quả, mỗi cơ sở đoàn đều căn cứ vào tình hình, đặc điểm của địa phương, chủ động lựa chọn các tiêu chí phù hợp trong số 19 tiêu chí xây dựng NTM để chỉ đạo thực hiện. Trong đó, tập trung vào các phần việc: Tham gia đổ bê tông các tuyến đường liên thôn, nội đồng; vớt bèo, nạo vét, khơi thông dòng chảy, thi công các tuyến đường điện “Thắp sáng đường quê”; thực hiện các chương trình an sinh xã hội; hỗ trợ vay vốn phát triển kinh tế, chuyển giao khoa học kỹ thuật áp dụng vào sản xuất; xây dựng các mô hình tổ hợp tác, hợp tác xã nông nghiệp, phát triển mô hình thanh niên nông thôn làm kinh tế giỏi... Ngoài ra, tuổi trẻ Ninh Bình đã chủ động đã tham mưu với cấp ủy, chính quyền đảm nhận thiết kế, đóng góp ngày công xây dựng các công trình hạ tầng nông thôn; huy động lực lượng ĐVTN phối hợp với các tổ chức đoàn thể ra quân vệ sinh môi trường, giữ gìn vệ sinh đường làng, ngõ xóm, thu gom, xử lý rác thải, triển khai mô hình làng, xã xanh - sạch - đẹp - an toàn. Riêng năm 2019, các cấp bộ Đoàn trong toàn tỉnh đã huy động hàng chục nghìn ngày công để sửa chữa, xây dựng mới 45 nhà văn hóa thôn; cải tạo, sửa chữa, xây mới 145 điểm vui chơi thể thao tại nhà văn hóa thôn, xóm, phố với tổng trị giá hơn 2,5 tỷ đồng; nạo vét, đào đắp gần 3.000 m3 kênh mương, khơi thông được 11,5 km dòng chảy, sửa chữa và cứng hóa trên 18,5 km đường giao thông nông thôn; lắp đặt 15,5 km đường điện, trị giá gần 450 triệu đồng; vận động hơn 18.600 lượt ĐVTN tham gia vệ sinh môi trường và tu sửa hơn 60 km đường giao thông nông thôn trị giá hơn 150 triệu đồng; trồng hơn 38.000 cây xanh các loại, thu gom hơn 45 tấn rác thải..., góp phần tạo cảnh quan nông thôn sáng, xanh, sạch đẹp. Bên cạnh đó, các cấp bộ Đoàn còn thường xuyên vận động ĐVTN tích cực hưởng ứng phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”; tham gia các hoạt động giữ vững an ninh, trật tự trên địa bàn nông thôn. Củng cố và phát triển các mô hình câu lạc bộ (CLB) Tuổi trẻ với pháp luật, CLB Thắp sáng niềm tin, CLB Tiền hôn nhân...; tổ chức có hiệu quả các hoạt động giữ gìn trật tự, an toàn giao thông; tiên phong, gương mẫu trong việc thực hiện nếp sống văn hóa trong cưới hỏi, việc tang và lễ hội góp phần hoàn thiện các tiêu chí văn hóa, an ninh, trật tự xã hội tại các địa phương. Đặc biệt, theo Bí thư Tỉnh đoàn Đinh Thị Phượng, để tạo điều kiện giúp ĐVTN phát triển kinh tế gia đình, tăng thu nhập, góp phần thực hiện tiêu chí xây dựng NTM, các cấp bộ Đoàn đã chủ động nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của ĐVTN; đồng thời tích cực phối hợp với các ngành chức năng để tư vấn, hỗ trợ vốn vay, kỹ thuật cho thanh niên, người dân; từng bước hỗ trợ thanh niên xây dựng các mô hình điểm; thành lập các hợp tác xã, tổ hợp tác, CLB Thanh niên giúp nhau làm kinh tế, các mô hình liên kết phát triển kinh tế nông - lâm - ngư nghiệp phù hợp với điều kiện của từng địa phương... Cụ thể, các cơ sở Đoàn đã tích cực khai thác sử dụng có hiệu quả nguồn vốn Quỹ Quốc gia về việc làm, vốn từ Ngân hàng Chính sách xã hội và vận động các nguồn xã hội hóa để hỗ trợ vay vốn cho thanh niên làm kinh tế, giải quyết việc làm. Nhờ vậy, đến nay, các cấp bộ Đoàn đã nhận ủy thác từ Ngân hàng Chính sách xã hội trên 276 tỷ đồng, giúp hàng trăm hộ thanh niên vay vốn. Năm 2019, Tỉnh đoàn đã thực hiện giải ngân 5 tỷ đồng cho thanh niên khởi nghiệp, thanh niên làm kinh tế từ nguồn vốn “Hỗ trợ vốn vay khởi nghiệp và phát triển sản xuất, kinh doanh cho thanh niên trên địa bàn tỉnh Ninh Bình”. Qua đó, khuyến khích và khơi dậy tinh thần khởi nghiệp trong thanh niên. Song song với đó, để góp phần tạo điều kiện cho ĐVTN tìm kiếm việc làm, các cấp bộ Đoàn đã vận động ĐVTN tham gia các sàn giao dịch việc làm do Trung tâm Giới thiệu việc làm tỉnh tổ chức. Thông qua hoạt động này, nhiều thanh niên nông thôn đã có điều kiện lập thân, lập nghiệp, làm giàu ngay trên mảnh đất quê hương. Ngoài ra, các cấp bộ Đoàn còn huy động ĐVTN tích cực tham gia thực hiện chính sách an sinh xã hội. Năm 2019, Tỉnh đoàn đã tổ chức khám bệnh, tư vấn và cấp thuốc miễn phí cho 3.200 đối tượng trị giá gần 800 triệu đồng; thăm hỏi và tặng 462 suất quà cho các đối tượng học sinh nghèo vượt khó, người già neo đơn, gia đình chính sách... tổng trị giá hơn 700 triệu đồng; duy trì phụng dưỡng 20 Mẹ Việt Nam Anh hùng; hỗ trợ 1.800 ngày công tình nguyện và kinh phí sửa chữa, xây dựng 87 ngôi nhà nhân ái, nhà khăn quàng đỏ cho gia đình có công với cách mạng, người già neo đơn và học sinh giỏi có hoàn cảnh khó khăn, tổng trị giá gần 1,3 tỷ đồng. Tin tưởng rằng với sự năng động, sáng tạo và quyết tâm cao của tuổi trẻ, vai trò, trách nhiệm của thanh niên Ninh Bình trong phong trào xây dựng NTM ngày càng được củng cố, nâng cao với nhiều kết quả nổi bật hơn nữa, tạo thành phong trào thi đua sôi nổi, thiết thực trong những năm tiếp theo. Tùng Chi  

Những mô hình hay của thanh niên Hà Tĩnh

TĐKT - Hơn 10 năm qua, tuổi trẻ Hà Tĩnh đã khẳng định được vai trò, tầm quan trọng và sự đóng góp rất to lớn trong xây dựng nông thôn mới thông qua những mô hình hay, cách làm sáng tạo, hiệu quả, góp phần vào sự thành công chung của cả hệ thống chính trị. Một trong những nội dung được cấp ủy các cấp đánh giá rất cao đó là việc thực hiện tốt chương trình “Hành trình thứ 2 của lốp xe” và “Vườn ươm thanh niên”. Từ việc tận dụng những vật liệu phế thải để tạo ra những vật hữu dụng, qua đó góp phần tuyên truyền về nhận thức, ý thức bảo vệ môi trường cho đoàn viên thanh niên và bà con nhân dân, các bạn trẻ huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh đã có sáng kiến “khoác áo mới” cho những chiếc lốp xe cũ. Con đường hoa thanh niên góp phần xây dựng các khu du lịch, bãi biển trở nên tươi đẹp hơn Những chiếc lốp xe tưởng chừng là thứ vứt đi, tuy nhiên với bàn tay khéo léo của các bạn đoàn viên, thanh niên Thạch Hà, chúng đã được trang trí bằng những họa tiết và màu sắc thật bắt mắt; sau đó, được gắn với các khung, giá đỡ phù hợp, trở thành các chậu trồng hoa hữu dụng. Đáng nói là, tất cả chi phí để mua các dụng cụ cần thiết và toàn bộ ngày công làm việc đều do các tình nguyện viên chung tay đóng góp. Các bạn đoàn viên, thanh niên Thạch Hà cho biết: Để làm được một tuyến đường hoa dài khoảng 500 m mất khoảng 2 tuần chuẩn bị và gần 1 tuần thực hiện. Ngoài việc xây dựng con đường hoa, các bạn còn tạo ra những tiểu khu vui chơi cho trẻ em tại các địa bàn dân cư, những trò chơi đơn giản nhưng thân thiện tạo sự tò mò và thích thú cho các em thiếu niên, nhi đồng tại các vùng quê nghèo. Với cách làm sáng tạo này, từ năm 2017 đến nay, các cấp bộ Đoàn Hà Tĩnh đã xây dựng thành công hàng trăm km đường hoa thanh niên, 260 tiểu khu vui chơi cho trẻ em. Riêng huyện Thạch Hà có 15 tuyến đường hoa thanh niên, 18 tiểu khu vui chơi cho trẻ em. Những công trình này đã thực sự tạo điểm nhấn tại các vùng quê, thôn xóm, khu dân cư nông thôn mới.   Bên cạnh chương trình “Hành trình thứ 2 của lốp xe”, đoàn viên thanh niên tỉnh Hà Tĩnh còn xây dựng các vườn ươm thanh niên. Những vùng đất trống, vùng đất hoang, nhà hoang được các bạn đoàn viên, thanh niên đề xuất chính quyền cho phép sử dụng để xây dựng các vườn ươm cây. Với phương châm xây dựng vườn ươm “0 đồng”, các bạn trẻ đã góp sức, góp vật liệu để xây dựng nên các vườn ươm mượt màu xanh và rất hiệu quả. Những sản phẩm đó được cung cấp cho bà con nhân dân để tạo nên những hàng rào xanh thân thiện với môi trường. Việc xây dựng vườn ươm thanh niên một phần tạo nguồn cung cây xanh cho bà con nhân dân, một phần tiết kiệm và đóng góp một nguồn kinh phí rất lớn. Những vườn ươm cây giống của thanh niên Hà Tĩnh Cụ thể, vào đúng mùa, 1 cây bầu chỗi ngọc ngoài thị trường giá thời điểm thấp nhất 1.500 đồng. Để xây dựng hàng rào xanh cho 1 khu dân cư tổng chiều dài các tuyến đường dài khoảng 4 km thì cần tới 56.000 bầu cây chuỗi ngọc, tương đương 84 triệu đồng. Tuy nhiên từ vườn ươm thanh niên, các bạn cung cấp với giá 500 đồng thì tổng chi phí chỉ cần 28 triệu đồng. Như vậy, việc các vườn ươm thanh niên cung cấp cây cho 1 khu dân cư đã giúp bà con tiết kiệm được 56 triệu đồng. Đó là một số tiền có giá trị không hề nhỏ. Tính đến nay, toàn tỉnh Hà Tĩnh đã có 360 vườn ươm thanh niên xây dựng nông thôn mới với hơn 2,5 triệu bầu cây giống, cung cấp cho hàng trăm khu dân cư và khu dân cư kiểu mẫu trong toàn tỉnh. Số tiền tiết kiệm được đã lên tới hàng tỷ đồng. Đây thực sự là một một hình hay, hiệu quả vừa gây dựng được phong trào vừa tạo ra được hiệu quả kinh tế rất cao... Chương trình “Hành trình thứ 2 của lốp xe” và mô hình “Vườn ươm thanh niên” của các bạn trẻ Hà Tĩnh đang thực hiện thực sự rất hiệu quả cả về mặt tuyên truyền, giáo dục lẫn hiệu quả kinh tế, cần được nhân rộng trên địa bàn toàn quốc, tạo ra một phong trào lan tỏa trong đoàn viên, thanh niên, đặc biệt các địa bàn dân cư. Thục Anh  

Hiệu quả từ mô hình Bể thu gom vỏ thuốc bảo vệ thực vật, túi ni lông

TĐKT - Từ 20/2/2018, đến nay, thực hiện mô hình Bể thu gom vỏ thuốc bảo vệ thực vật (BVTV), túi ni lông, Đoàn thanh niên xã Trung An, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình đã xây dựng được tổng cộng 17 bể thu gom vỏ thuốc BVTV và túi ni lông bằng bê tông, có kích thước 80 cm x 50 cm, chiều cao 1 m được đặt trên các cánh đồng trong địa bàn xã. Thông qua chương trình, ý thức bảo vệ môi trường cũng như việc tiêu hủy bao bì thuốc BVTV đã qua sử dụng của người dân ngày càng cao và có trách nhiệm hơn. Trung An vốn là một xã thuần nông với nguồn thu chủ yếu từ trồng lúa và trồng các loại cây rau màu. Việc sử dụng thuốc BVTV phục vụ trồng trọt và canh tác ngày càng gia tăng với tần suất cao, kèm theo đó là tình trạng vứt vỏ thuốc BVTV, túi ni lông bừa bãi. Một số hộ dân còn có thói quen vứt rác xuống các hệ thống sông ngòi, bờ ruộng và ra các vị trí không đúng theo quy định, dẫn đến rác trôi nổi, gây ô nhiêm môi trường, làm mất vẻ đẹp cảnh quan, gây ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe con người, ảnh hưởng đến an toàn vệ sinh thực phẩm, làm cho tình hình dịch bệnh diến biến phức tạp, ảnh hưởng đến phong trào xây dựng nông thôn mới của xã nói riêng và toàn huyện nói chung. Đoàn viên, thanh niên xã Trung An thu gom vỏ thuốc bảo vệ thực vật, túi ni lông. (Ảnh: Gia Hưng) Trước thực trạng đó, Ban chấp hành Đoàn xã đã tuyên truyền, vận động đoàn viên, thanh niên và toàn thể nhân dân nâng cao ý thức bảo vệ môi trường, kêu gọi và vận động ủng hộ kinh phí để xây dựng bể thu gom vỏ thuốc BVTV và túi ni lông. Dự án xây dựng Bể thu gom vỏ thuốc BVTV - túi ni lông đã huy động cả hệ thống tổ chức chính trị cùng chung tay vào cuộc. BCH Đoàn xã đứng ra kêu gọi các tổ chức, cá nhân, các mạnh thường quân cùng đóng góp nguồn lực xây dựng các bể thu gom vỏ thuốc BVTV và túi ni lông đặt trên các cánh đồng trong địa bàn xã. Đặc biệt, BCH Đoàn xã còn phát động phong trào kế hoạch nhỏ trong toàn xã nhằm tạo thêm nguồn kinh phí. Theo đó, mỗi đoàn viên, thanh niên tích cực vận động, tuyên truyền tới toàn thể nhân dân tự thu gom vỏ lon, giấy vụn tại gia đình. Ngày 24 hàng tháng, BCH Đoàn xã đi đến từng hộ gia đình để thu gom và vận chuyển đến nơi tập kết chung, phân loại và bán để xây dựng quỹ hoạt động chung, trước hết lấy nguồn kinh phí đó xây dựng các bể thu gom vỏ thuốc BVTV, túi ni lông, sau là tổ chức các hoạt động tại thôn và xã. Việc làm này đã được nhân dân và đoàn viên, thanh niên tham gia rất tích cực, qua đó nâng cao ý thức bảo vệ môi trường, xây dựng nông thôn mới xanh, sạch, đẹp. Sau một thời gian triển khai, dự án Bể thu gom vỏ thuốc BVTV, túi ni lông sau sử dụng trên địa bàn xã đã nhận được sự ủng hộ, tham gia tích cực của người dân địa phương, góp phần nâng cao nhận thức, trách nhiệm của người dân trong việc bảo vệ môi trường, tạo thói quen tốt trong canh tác, giảm thiểu ô nhiễm nguồn nước, đất do vỏ chai lọ, bao thuốc trong canh tác nông nghiệp để lại. Đến nay, cứ vào ngày thứ 6 hàng tuần, Đoàn xã cùng với các ban ngành và nhân dân tiến hành tổ chức thu gom vào ngày tổng vệ sinh môi trường trên các cánh đồng và cùng với đội thu gom rác vận chuyển về bãi rác tập trung xử lý theo quy định.  Đa số các hộ dân tham gia mô hình điều nhận định đây là mô hình thiết thực, hiệu quả về bảo đảm vệ sinh môi trường ở nông thôn, bảo vệ sức khỏe nhân dân cần được duy trì và nhân rộng tại địa phương trong thời gian tới. Mô hình đã tạo ra nhiều dấu ấn trong quá trình xây dựng nông thôn mới của xã nói riêng và của huyện nói chung, góp phần hưởng ứng phong trào “Tuổi trẻ chung tay xây dựng nông thôn mới” của cả nước. Thời gian tới, BCH Đoàn xã tiếp tục nhân rộng mô hình tới tất cả các cánh đồng trên toàn xã và chia sẻ kinh nghiệm để nhân rộng tới các xã khác trong huyện. Thục Anh  

Trang