Từ những vườn ca cao, khơi dậy tinh thần thi đua làm giàu trên quê hương
28/09/2026 - 14:30

BTĐKT - Từ những diện tích canh tác còn manh mún, phụ thuộc vào thương lái và phương thức sản xuất truyền thống, người dân buôn Ea Mar, xã Buôn Đôn, tỉnh Đắk Lắk đã từng bước hình thành mô hình liên kết trồng, sản xuất và sơ chế ca cao bền vững. Điều đáng nói, phía sau những con số về năng suất, thu nhập là một cách làm giàu dựa trên tinh thần tự lực, liên kết và thi đua cùng nhau đổi mới.

“Cầm tay chỉ việc”, làm trước để dân tin

Buôn Ea Mar là một buôn thuần nông vùng biên giới của xã Buôn Đôn, với 510 ha đất sản xuất nông nghiệp. Đời sống người dân chủ yếu dựa vào trồng trọt và chăn nuôi. Toàn buôn có 252 hộ với 992 nhân khẩu; trong đó, 75 hộ nghèo và 35 hộ cận nghèo. Trong điều kiện đó, bài toán đặt ra không chỉ là lựa chọn một cây trồng phù hợp, mà còn phải tìm được cách tổ chức sản xuất để người dân có thể cùng nhau phát triển kinh tế ngay trên mảnh đất quê hương.

Với tinh thần dám nghĩ, dám làm và khát vọng xóa nghèo, Hội Nông dân xã phối hợp với chính quyền địa phương, các ban, ngành, đoàn thể tìm hiểu, học hỏi kinh nghiệm, mạnh dạn đưa cây ca cao vào trồng thử. Khi nhận thấy cây sinh trưởng, phát triển tốt, cho quả và có khả năng tạo giá trị kinh tế, người dân từng bước mở rộng diện tích, tiến tới thành lập “Tổ hợp tác canh tác, sản xuất và sơ chế ca cao bền vững buôn Ea Mar”.

Tổ hợp tác tập huấn kỹ thuật trồng và chăm sóc cây ca cao cho bà con

Từ 15 thành viên ban đầu, Tổ hợp tác trở thành nơi các hộ cùng trao đổi kinh nghiệm, hỗ trợ nhau trong sản xuất, mua chung và bán chung. Cách làm này vừa giúp giảm chi phí đầu vào, nâng cao hiệu quả tiêu thụ, vừa từng bước thay đổi tư duy sản xuất nhỏ lẻ, hướng người dân tới phương thức sản xuất xanh, bền vững.

Điểm đáng chú ý của mô hình là phương thức vận động được chuyển từ tuyên truyền đơn thuần sang “cầm tay chỉ việc”. Cán bộ Hội, người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số được vận động làm trước để bà con thấy được hiệu quả. Tổ hỗ trợ kỹ thuật đến tận nương rẫy, hướng dẫn từng công đoạn, từ làm đất, lựa chọn giống, cách trồng đến cắt tỉa, tạo tán.

Cùng với việc thay đổi kỹ thuật canh tác, người dân được hướng dẫn chuyển sang các giống ca cao mới có năng suất cao, khả năng kháng bệnh tốt; áp dụng trồng xen canh hợp lý để tạo độ che bóng, giữ ẩm; sử dụng phân bón sinh học và tưới tiết kiệm nước. Đây là những thay đổi không dễ thực hiện với những hộ đã quen phương thức sản xuất truyền thống, nhưng từng bước được hình thành thông qua việc hướng dẫn trực tiếp ngay trên vườn cây.

Tổ hợp tác tập huấn kỹ thuật mới cho đông đảo bà con

Một khâu khác được Tổ hợp tác đặc biệt chú trọng là đầu ra sản phẩm. Thay vì để từng hộ tự tìm nơi tiêu thụ, Tổ hợp tác chủ động kết nối với doanh nghiệp, làm cầu nối để xây dựng chuỗi liên kết và ký kết thu mua sản phẩm. Từ đó, bài toán đầu ra từng bước được giải quyết, tạo thêm niềm tin để người dân yên tâm đầu tư, chăm sóc vườn cây.

Có thể nói, điểm mới của mô hình nằm ở sự thay đổi đồng thời cả cách sản xuất và cách vận động người dân từ riêng lẻ sang liên kết, từ kinh nghiệm truyền thống sang kết hợp khoa học kỹ thuật, từ sản xuất theo thói quen sang theo dõi, đánh giá bằng kết quả cụ thể.

Thi đua bằng hiệu quả, lan tỏa từ một mô hình

Hiệu quả của cách làm được thể hiện khá rõ qua 3 năm triển khai. Từ năm 2024 đến năm 2026, năng suất hạt ca cao khô tăng từ 1,2 tấn/ha lên 1,8 tấn/ha. Thu nhập bình quân của các hộ tham gia lần lượt đạt 78 triệu đồng, 105 triệu đồng và 90 triệu đồng/hộ/năm trong các năm 2024, 2025 và 2026.

Cùng với năng suất, quy mô mô hình cũng được mở rộng. Năm 2024, diện tích ca cao khoảng 15 ha; đến năm 2026 mở rộng thêm 15 ha, đưa tổng diện tích lên khoảng 30 ha. Số hộ tham gia cũng tăng từ khoảng 15 hộ lên hơn 30 hộ đăng ký tham gia mở rộng trong năm 2026.

Những con số ấy cho thấy một điều quan trọng: Khi người dân nhìn thấy hiệu quả từ thực tế, phong trào có thể tự tạo ra sức lan tỏa. Từ chỗ sản xuất còn tự phát, phụ thuộc thương lái, các hộ từng bước chuyển sang sản xuất theo quy trình kỹ thuật và liên kết tiêu thụ với doanh nghiệp. Báo cáo ghi nhận 100% hộ tham gia nắm vững kỹ thuật canh tác bền vững.

Các hộ dân đi tham quan mô hình vườn ca cao

Mô hình cũng tạo những tác động tích cực về xã hội. Khoảng 50 người được hưởng lợi trực tiếp, 15 người hưởng lợi gián tiếp và 10 lao động có việc làm thường xuyên hoặc thời vụ. Quan trọng hơn, mô hình góp phần khuyến khích người dân tự lực, mạnh dạn đổi mới, ứng dụng khoa học kỹ thuật và liên kết trong sản xuất; giúp bà con đồng bào dân tộc thiểu số yên tâm bám đất, bám làng phát triển kinh tế, góp phần ổn định dân cư và giữ vững an ninh trật tự biên giới.

Từ hiệu quả ban đầu, các hộ tham gia không chỉ làm cho mình mà còn chia sẻ kinh nghiệm, hỗ trợ nhau về ngày công và kỹ thuật. Kết quả của mô hình trở thành cơ sở để tuyên truyền, vận động các hộ khác học tập, áp dụng. Đây cũng là lúc tinh thần thi đua chuyển từ sự hưởng ứng của một nhóm hộ thành sự lan tỏa trong cộng đồng.

Điều đáng nói là mô hình không đòi hỏi nguồn vốn quá lớn, chủ yếu tận dụng nguồn lực tại chỗ, phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương và có thể điều chỉnh theo từng nhóm đối tượng. Quy trình cũng tương đối đơn giản, dễ hướng dẫn, dễ kiểm tra và có khả năng phổ biến để các hộ dân, tổ chức, đơn vị khác học tập, áp dụng.

Từ câu chuyện ở buôn Ea Mar có thể thấy, thi đua trong phát triển kinh tế không nhất thiết phải bắt đầu từ những chương trình lớn hay nguồn lực đầu tư lớn. Điều quan trọng là xuất phát từ nhu cầu thực tế của người dân; có người tiên phong làm trước; có cán bộ đồng hành, hướng dẫn; đồng thời lấy kết quả thực tế để tạo niềm tin và thuyết phục người dân cùng tham gia.

Từ những vườn ca cao xanh tốt hôm nay, một cách làm mới đang được hình thành ở buôn Ea Mar. Đó là cách biến tinh thần thi đua thành những việc làm cụ thể trên đồng ruộng; biến sự mạnh dạn của một vài hộ thành sức mạnh của cộng đồng; biến hiệu quả sản xuất thành động lực để người dân cùng học tập, cùng làm và cùng vươn lên.

Giá trị của mô hình vì thế không chỉ nằm ở những tấn hạt ca cao hay mức thu nhập của từng hộ, mà còn ở sự chuyển biến trong cách nghĩ, cách làm của người dân: Từ sản xuất riêng lẻ sang liên kết, từ kinh nghiệm truyền thống sang ứng dụng khoa học kỹ thuật, từ tâm lý trông chờ sang chủ động tìm hướng phát triển kinh tế. Đó cũng là cách để phong trào thi đua thực sự đi vào cuộc sống, bắt đầu từ những việc gần gũi nhất với người dân và tạo ra những kết quả có thể nhìn thấy, đo đếm và nhân rộng.

Thục Anh