Điển hình tiên tiến

Nữ dân quân giỏi việc nước, đảm việc nhà

TĐKT - Nhớ lời Bác dạy: “Phụ nữ phải nâng cao tinh thần làm chủ, cố gắng học tập và phấn đấu...”, trong quá trình công tác, nữ dân quân Hà Thị Nu (xã Mường Do, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La) luôn nỗ lực vượt khó, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. Không chỉ nhiệt tình với công tác xã hội, chị còn là người vợ, người mẹ đảm đang và là tấm gương tiêu biểu trong phát triển kinh tế ở địa phương. Chị Hà Thị Nu (ngoài cùng bên trái) giới thiệu các sản phẩm của HTX Chè San Tuyết Mường Do Tận tụy, trách nhiệm với công việc Năm 2006, khi vừa tròn 22 tuổi, Hà Thị Nu đã xung phong tham gia lực lượng dân quân, đồng thời được giao nhiệm vụ công tác hội phụ nữ của xã. Vừa đi học đại học tại chức, vừa chăm con nhỏ, chị vẫn hăng hái tham gia các nhiệm vụ huấn luyện, luyện tập, diễn tập, phối hợp tuần tra bảo vệ rừng và các mục tiêu quan trọng khác trên địa bàn xã, những công việc vốn không hề dễ dàng đối với nữ giới. Tuy vậy, vượt lên những khó khăn, chị đã cùng với các anh, chị em tiểu đội dân quân Bản Lằn, xã Mường Do thực hiện tốt các chương trình huấn luyện hàng năm, nhất là các đợt luyện tập, diễn tập chiến đấu phòng thủ, diễn tập phòng, chống cháy rừng, phòng, chống bão lũ, tìm kiếm cứu nạn; phối hợp tham gia giữ gìn an ninh trật tự trên địa bàn, luôn được chỉ huy và cấp ủy, chính quyền địa phương ghi nhận. Đặc biệt, vừa tham gia dân quân, vừa tham gia công tác hội phụ nữ, chị đã chủ động đề xuất với Ban Chỉ huy và Đảng ủy xã áp dụng nhiều hình thức tuyên truyền, vận động bà con nhân dân chấp hành nghiêm đường lối chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và quy ước, hương ước của bản, của xã. Từ đó, tạo nên sự đồng thuận, quyết tâm cao của bà con nhân dân trong thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Bà con đã chăm chỉ làm ăn, xóa bỏ nhiều hủ tục lạc hậu như: Phá rừng làm nương, tham gia truyền đạo trái pháp luật, di cư tự do không theo quy hoạch... Thanh niên địa phương hăng hái xung phong thực hiện nghĩa vụ quân sự. Năm nào địa phương cũng hoàn thành và vượt chỉ tiêu tuyển quân được giao. Vực dậy vùng chè cổ thụ Mường Do Trước đây, giống như nhiều hộ gia đình khác ở vùng quê nghèo Mường Do, nhiều năm liền gia đình chị sống trong cảnh khó khăn do thiếu vốn, thiếu kiến thức về kỹ thuật canh tác, chăn nuôi... Chị kể: “Trong quá trình đi học tại chức, được nghe nhiều câu chuyện về các mô hình, tấm gương làm giàu từ nông nghiệp ở khắp các miền quê, tôi luôn trăn trở với câu hỏi: Tại sao mình mãi cứ quẩn quanh với cái nghèo, cái khổ thế?” Tháng 4 năm 2013, sau khi tốt nghiệp, chị và chồng đã bàn bạc cách làm kinh tế và đi tìm hiểu nhiều mô hình làm giàu ở các địa phương. Nhận thấy quê mình có lợi thế về sản xuất đặc sản chè San Tuyết, chị bàn với chồng mạnh dạn nhận hợp đồng thầu nương chè San Tuyết của bản với diện tích khoảng 2 ha để sản xuất. Sau khi có đất, lại được lợi thế về cây chè đã có sẵn, chỉ việc chăm sóc, thu hoạch; những tưởng là sẽ thành công đổi đời ngay để thoát nghèo. Nhưng bao khó khăn lại phát sinh khiến hai vợ chồng chị lao đao. Vụ đầu tiên, do không được cắt tỉa và chăm sóc đúng cách, cây chè bị mối ăn, sâu bệnh đục giữa thân cây. Gia đình chị tìm mọi cách chữa trị nhưng không phù hợp, cây cứ khô héo và lụi dần. Không bỏ cuộc, vợ chồng chị tìm đến sự hỗ trợ, tư vấn của cán bộ nông nghiệp huyện. Sau khi chị sử dụng chế phẩm sinh học đúng cách, khoảng nửa năm sau, những cây chè bị bệnh lại dần hồi sinh, phát triển. Tuy nhiên, thời điểm ban đầu, sản phẩm chè chưa có thương hiệu nên khách hàng rất dè dặt trong tiếp nhận. Cả năm, gia đình chị chỉ tiêu thụ được khoảng hơn 400 kg chè, thu nhập khoảng gần 150 triệu đồng, chỉ vừa đủ để trả tiền lãi vay của ngân hàng.  “Thấy việc làm chè San Tuyết khó quá, cũng có người ý kiến: Thôi thì chặt chè đi mà làm nương ngô cho được tiền nhiều hơn. Nhưng hai vợ chồng vẫn động viên nhau: Có chí thì nên; chúng tôi đã lên kế hoạch, thời gian biểu cho việc tham gia công tác xã hội và mạnh dạn vay thêm vốn vay tín dụng phụ nữ để quyết tâm với việc sản xuất chè San Tuyết.” - Chị kể. Đất không phụ công người, nhờ cố gắng, kiên trì giới thiệu sản phẩm, lại được các cơ quan chuyên môn của huyện thường xuyên giúp đỡ trong quảng bá sản phẩm, tư vấn kỹ thuật chăm sóc, thu hoạch và sản xuất, nên việc sản xuất và tiêu thụ chè của gia đình chị ngày được nâng lên. Đến đầu năm 2015, gia đình chị đã tiêu thụ được hết số chè tồn kho với giá cao, giúp trang trải phần lớn nợ nần. Phát huy kết quả đó, đến cuối năm 2015, chị tiếp tục đầu tư mở rộng diện tích trồng chè lên hơn 7 ha, sản lượng chè búp tươi của gia đình đạt 3,5 tấn/năm. Giá chè búp tươi tăng gấp đôi, giá chè thương phẩm tăng 80% so với năm 2014. Sau khi trừ các chi phí, lãi thu về bình quân khoảng 70 triệu đồng/năm. Sản phẩm chè được nhiều khách hàng ưa chuộng và có đầu ra ổn định. Để phát huy lợi thế, nhân lực của địa phương và giúp bà con đỡ khó khăn, chị đã vận động các hộ gia đình ở hai bản bên cạnh liên kết duy trì, mở rộng diện tích chè. Sản lượng chè được tiêu thụ tăng lên hàng năm. Đã có 15 hộ liên kết cùng gia đình chị làm chè San Tuyết. Hiện nay, các chị đã thành lập được Hợp tác xã Chè San Tuyết Mường Do. Chị cho biết: “Đây là sự cổ vũ và động lực rất lớn, để tôi tiếp tục cùng các thành viên trong hợp tác xã cùng nhau phấn đấu xây dựng thương hiệu chè thương phẩm của Mường Do, tăng thêm thu nhập, ổn định kinh tế, giữ vững an ninh quốc phòng, góp phần xây dựng nông thôn mới tại địa phương.” Với sự nỗ lực, cố gắng không ngừng, năm 2016, chị vinh dự được Trung ương Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam tặng Bằng khen đã có thành tích xuất sắc trong phát triển kinh tế - xã hội; Chủ tịch UBND tỉnh Sơn La tặng Bằng khen đã có thành tích xuất sắc trong thực hiện phong trào thi đua Quyết thắng lực lượng vũ trang tỉnh Sơn La giai đoạn 2013 - 2018; năm 2017, 2018 được Chủ tịch UBND huyện Phù Yên tặng giấy khen trong phong trào thi đua yêu nước và giấy khen trong thực hiện nhiệm vụ công tác quân sự, quốc phòng địa phương. Phương Thanh

Xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc và nhân dân

TĐKT - Sáng 16/12, tại Hà Nội, Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam tổ chức Lễ kỷ niệm 75 năm Ngày truyền thống (22/12/1944 - 22/12/2019) và đón nhận Huân chương Bảo vệ Tổ quốc hạng Nhất. Đồng chí Trần Quốc Vượng, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư dự và trao Huân chương Bảo vệ Tổ quốc hạng Nhất cho Tổng cục Chính trị. Dự buổi lễ có: Đại tướng Ngô Xuân Lịch, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng; các đồng chí nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Phó Bí thư Quân ủy Trung ương, nguyên Bộ trưởng Bộ Quốc phòng: Đại tướng Phạm Văn Trà, Đại tướng Phùng Quang Thanh; các đồng chí Bí thư Trung ương Đảng: Trần Thanh Mẫn, Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; Phan Đình Trạc, Trưởng Ban Nội chính Trung ương; Nguyễn Xuân Thắng, Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh; Đại tướng Lương Cường, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị QĐND Việt Nam. Cùng dự có Thượng tướng Phan Văn Giang, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, Tổng Tham mưu trưởng QĐND Việt Nam, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng; đại biểu lão thành cách mạng, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân; đại biểu các ban, bộ, ngành trung ương, TP Hà Nội, tỉnh Thái Nguyên; đại biểu lãnh đạo, chỉ huy cơ quan chính trị các đơn vị thuộc Bộ Quốc phòng; đại diện các thế hệ cán bộ, nhân viên, chiến sĩ cơ quan Tổng cục Chính trị qua các thời kỳ. Đồng chí Trần Quốc Vượng, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư trao Huân chương Bảo vệ Tổ quốc hạng Nhất tặng Tổng cục Chính trị QĐND Việt Nam Trong suốt 75 năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, Tổng cục Chính trị QĐND Việt Nam luôn bám sát đường lối cách mạng, nhiệm vụ xây dựng quân đội, tích cực, chủ động tham mưu với Đảng, Nhà nước các chủ trương, giải pháp xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc và nhân dân, góp phần cùng toàn Đảng, toàn dân lập nên những chiến công chói lọi trong lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc, đánh bại thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, thống nhất đất nước, thực hiện thắng lợi các cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc và làm tròn nhiệm vụ quốc tế cao cả. Bước vào thời kỳ đổi mới, Tổng cục Chính trị đã chủ động tham mưu với Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương từng bước hoàn thiện cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với quân đội. Chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các ban, bộ, ngành, đoàn thể trung ương, địa phương xây dựng nền quốc phòng toàn dân gắn với nền an ninh nhân dân vững chắc, xây dựng mối quan hệ đoàn kết máu thịt với nhân dân; nâng cao chất lượng xây dựng khu vực phòng thủ, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, xứng đáng với truyền thống của Tổng cục Chính trị QĐND Việt Nam: “Trung thành, kiên định; gương mẫu, tiêu biểu; nguyên tắc, dân chủ; chủ động, sáng tạo; nhạy bén, sắc sảo; đoàn kết, thống nhất; quyết chiến, quyết thắng”. Với những thành tích đặc biệt xuất sắc và đóng góp to lớn vào quá trình xây dựng, phát triển của quân đội và nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, Tổng cục Chính trị đã vinh dự được Đảng, Nhà nước tặng thưởng Huân chương Sao vàng và nhiều phần thưởng cao quý khác. Đồng chí Trần Quốc Vượng, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư phát biểu tại Lễ kỷ niệm Phát biểu tại buổi lễ, đồng chí Trần Quốc Vượng, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư chúc mừng những thành tích, sự trưởng thành, lớn mạnh của Tổng cục Chính trị QĐND Việt Nam trong 75 năm qua. Đồng thời yêu cầu, Tổng cục Chính trị QĐND Việt Nam, cơ quan chính trị và đội ngũ cán bộ chính trị trong toàn quân cần thường xuyên quán triệt sâu sắc, nắm vững đường lối, quan điểm, chủ trương, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; nắm vững chiến lược quốc phòng, quân sự; phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc, truyền thống anh hùng của quân đội và của Tổng cục Chính trị QĐND Việt Nam, chủ động, sáng tạo, nâng cao chất lượng, hiệu quả tham mưu, chỉ đạo hoạt động CTĐ, CTCT trong toàn quân; góp phần xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, làm cơ sở để nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu, bảo đảm Quân đội nhân dân Việt Nam hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó. Cùng với đó, Tổng cục Chính trị cần tập trung chỉ đạo, tổ chức xây dựng Đảng bộ Quân đội, Đảng bộ Cơ quan Tổng cục Chính trị vững mạnh; nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các cấp ủy, tổ chức đảng. Trong đó xây dựng Đảng bộ Quân đội nói chung, Đảng bộ Cơ quan Tổng cục Chính trị nói riêng phải là cơ quan mẫu mực, đi đầu trong việc tiếp tục thực hiện tốt Chỉ thị 05 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh gắn với thực hiện Cuộc vận động phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới. Chỉ đạo tổ chức thành công đại hội đảng các cấp tiến tới Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đội lần thứ XI và Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng. Chủ động phối hợp chặt chẽ với các cơ quan Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể ở Trung ương và địa phương trong xây dựng tiềm lực, thế trận quốc phòng toàn dân, “thế trận lòng dân” vững chắc; xây dựng tiềm lực quân sự, quốc phòng, an ninh ngày càng vững mạnh, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, vì mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Nguyệt Hà

Cục Đo đạc, Bản đồ và Thông tin địa lý Việt Nam đón nhận Huân chương Độc lập hạng Nhì

TĐKT - Sáng 14/12, tại Hà Nội, Cục Đo đạc, Bản đồ và Thông tin địa lý Việt Nam tổ chức Lễ kỷ niệm 60 năm thành lập và đón nhận Huân chương Độc lập hạng Nhì. Tới dự, có: Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội Nguyễn Vinh Hà; Phó Chủ tịch Thường trực Hội đồng Thi đua - Khen thưởng Trung ương, Thứ trưởng Bộ Nội vụ, Trưởng Ban Thi đua - Khen thưởng Trung ương Trần Thị Hà; Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường (TNMT) Nguyễn Thị Phương Hoa. Phó Chủ tịch Thường trực Hội đồng Thi đua - Khen thưởng Trung ương, Thứ trưởng Bộ Nội vụ, Trưởng Ban Thi đua - Khen thưởng Trung ương Trần Thị Hà trao Huân chương Độc lập hạng Nhì của Chủ tịch nước tặng Cục Đo đạc, Bản đồ và Thông tin địa lý Việt Nam Sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, ngày 25/9/1945, Phòng Đồ bản thuộc Bộ Tổng Tham mưu - cơ quan bản đồ đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam được thành lập. Sau ngày hòa bình lập lại, do vai trò quan trọng của ngành đo đạc và bản đồ đối với công cuộc xây dựng và phát triển đất nước, ngày 14/12/1959, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 444-TTg thành lập Cục Đo đạc và Bản đồ trực thuộc Phủ Thủ tướng, chính thức hình thành cơ quan Cục Đo đạc và Bản đồ của nhà nước cách mạng Việt Nam. Đây là cơ quan quản lý nhà nước về Đo đạc và Bản đồ đầu tiên của Nhà nước cách mạng Việt Nam. Từ đó đến nay, Cục Đo đạc và Bản đồ đã được tổ chức lại nhiều lần nhưng luôn được giao nhiệm vụ và giữ vai trò là cơ quan quản lý nhà nước về đo đạc và bản đồ, tổ chức triển khai công tác đo đạc và bản đồ cơ bản trên phạm vi cả nước, đáp ứng yêu cầu của công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trải qua 60 năm xây dựng và phát triển, ngành đo đạc và bản đồ Việt Nam luôn bám sát định hướng phát triển đất nước của Đảng và Nhà nước, đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước hoàn thành tốt nhiệm vụ quản lý nhà nước; triển khai có hiệu quả các công trình, dự án đo đạc và bản đồ, nghiên cứu ứng dụng công nghệ, hợp tác quốc tế và đồng thời xây dựng nếp sống văn hóa mới, con người mới. Đặc biệt, từ năm 2009 đến năm 2019, ngành đo đạc và bản đồ Việt Nam đã phát triển toàn diện về xây dựng thể chế quản lý nhà nước về đo đạc và bản đồ, xây dựng cơ sở dữ liệu (CSDL) hạ tầng thông tin địa lý quốc gia. Cục Đo đạc, Bản đồ và Thông tin địa lý Việt Nam đã xây dựng và cơ bản hoàn thiện hệ thống thể chế, chính sách, các văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực đo đạc và bản đồ. Trong đó, nổi bật nhất là việc đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chủ trì xây dựng và trình Luật Đo đạc và bản đồ được Quốc hội Việt Nam thông qua ngày 14/6/2018 và có hiệu lực từ ngày 01/01/2019. Đồng thời, khẩn trương hoàn thiện các văn bản hướng dẫn thi hành Luật. Ngành đã tập trung triển khai và cơ bản hoàn thành các đề án, dự án đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại “Chiến lược phát triển ngành đo đạc và bản đồ Việt Nam đến năm 2020”. Trong đó, tiêu biểu là việc hoàn thành 2 dự án quan trọng liên quan đến thành lập CSDL nền thông tin địa lý tỷ lệ 1/10.000 gắn với mô hình số độ cao phủ trùm cả nước và CSDL nền thông tin địa lý tỷ lệ 1/2.000, 1/5.000 các khu vực đô thị, khu công nghiệp, khu kinh tế trọng điểm. Cục đã phối hợp với Bộ Ngoại giao và các bộ, ngành, địa phương liên quan hoàn thành tốt nhiệm vụ phân giới cắm mốc các tuyến biên giới trên đất liền với các nước láng giềng Trung Quốc, Lào, Campuchia góp phần quan trọng vào xây dựng biên giới chung hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển. Hoàn thành việc xây dựng CSDL nền thông tin địa hình cơ bản phục vụ quy hoạch, phát triển kinh tế - xã hội và giám sát tài nguyên môi trường CHDCND Lào (2013 - 2018); tăng cường năng lực cho Cục Bản đồ Quốc gia Lào; tăng cường mối quan hệ hợp tác, hữu nghị giữa hai nước Việt Nam và Lào. Phát biểu tại Lễ kỷ niệm, Thứ trưởng Bộ TNMT Nguyễn Thị Phương Hoa chúc mừng và biểu dương những thành tích đáng trân trọng và tự hào của các thế hệ cán bộ, công chức, viên chức và người lao động công tác trong ngành đo đạc và bản đồ trong suốt chặng đường 60 năm xây dựng và phát triển. Trong thời gian tới, Thứ trưởng Nguyễn Thị Phương Hoa đề nghị Cục cần tập trung giải quyết các vấn đề trọng tâm: Trên cơ sở Luật Đo đạc và bản đồ, trong thời gian sớm nhất cần nhanh chóng hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật đo đạc và bản đồ; kịp thời sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới đảm bảo sự thống nhất, đầy đủ, phù hợp với pháp luật có liên quan. Cục Đo đạc, Bản đồ và Thông tin địa lý Việt Nam phải coi đây là nhiệm vụ chính trị quan trọng nhất trong việc thực hiện kế hoạch hàng năm. Phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, địa phương và các đơn vị có liên quan để sớm hoàn thành dự thảo Chiến lược phát triển ngành đo đạc và bản đồ Việt Nam, hạ tầng không gian địa lý quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2040 trình Chính phủ phê duyệt trong Quý III năm 2020. Hiện đại hóa hạ tầng đo đạc, nâng cao chất lượng sản phẩm đo đạc và bản đồ phục vụ quản lý, giám sát tài nguyên, bảo vệ môi trường, phòng chống thiên tai, ứng phó với biến đổi khí hậu. Xây dựng và phát triển đội ngũ chuyên gia, cán bộ khoa học và công nghệ có trình độ chuyên môn cao, ngoại ngữ tốt để định hướng, tổ chức, làm “tổng công trình sư” các nhiệm vụ lớn củanNgành, làm công tác biên giới và hợp tác quốc tế trong lĩnh vực đo đạc và bản đồ. Cần phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành và địa phương có liên quan để đảm bảo công tác kỹ thuật phục vụ công tác đàm phán, giúp đẩy nhanh tiến độ hoàn thành phân giới cắm mốc biên giới trên đất liền Việt Nam – Campuchia; chuẩn bị các điều kiện nhân lực, kỹ thuật phục vụ phân định ranh giới trên biển với các quốc gia trong khu vực, góp phần ổn định tình hình chính trị và tăng cường hợp tác phát triển trong khu vực. Nhân Lễ kỷ niệm 60 năm thành lập, các tập thể, cá nhân Cục Đo đạc, Bản đồ và Thông tin địa lý Việt Nam đã đón nhận các phần thưởng cao quý của Đảng, Nhà nước, ghi nhận các đóng góp và thành tích rất đáng tự hào mà ngành đo đạc và bản đồ Việt Nam đã đạt được. Bình Nguyên    

Người cựu chiến binh tích cực học tập và làm theo gương Bác

TĐKT - Không chỉ là Chi hội trưởng Hội Cựu chiến binh (CCB) gương mẫu, tận tụy với công việc, ông Đồng Minh Quang (khóm 1, phường 7, TP Bạc Liêu) còn là tấm gương điển hình về học tập và làm theo Bác Hồ bằng những việc làm cụ thể, thiết thực, gần gũi với nhân dân.   CCB Đồng Minh Quang luôn tích cực học tập và làm theo gương Bác Từng tham gia tại hoạt động chiến trường tại Campuchia, với CCB Đồng Minh Quang, sự trở về lành lặn của bản thân là một may mắn mà những đồng đội đã mang lại. Bởi vậy, sau khi rời chiến trường, ông tiếp tục đóng góp sức mình cho ngành giao thông vận tải của tỉnh Bạc Liêu. Về hưu, ông tích cực tham gia phong trào của địa phương và được nhân dân, chính quyền địa phương tín nhiệm bầu làm Chi hội trưởng Chi hội CCB khóm 1. Với vai trò là Chi hội trưởng, CCB Đồng Minh Quang luôn nêu cao tinh thần, trách nhiệm của mình trong công tác, nỗ lực tìm ra những giải pháp để đưa hoạt động hội đi vào nền nếp. Ông đã xây dựng và triển khai kế hoạch hoạt động của Hội đến các hội viên và chỉ đạo tổ chức thực hiện có hiệu quả; thường xuyên quan tâm sâu sát cơ sở, tăng cường kiểm tra, nắm chắc tình hình để phát hiện những vấn đề cần tập trung chỉ đạo, những vấn đề còn hạn chế, từ đó tìm giải pháp tháo gỡ, khắc phục, đưa phong trào của Hội CCB khóm 1 có những bước phát triển mới, toàn diện hơn. Đồng thời, ông luôn gương mẫu, đẩy mạnh việc tuyên truyền vận động mọi người tích cực thực hiện học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; từng đảng viên trong chi bộ, chi hội phải cam kết bằng văn bản không làm những gì sai trái, không vi phạm nguyên tắc kỷ luật và vi phạm pháp luật để quần chúng nhân dân tin tưởng noi theo. Bên cạnh đó, ông cũng tích cực vận động hội viên CCB, bà con trong khóm tích cực tham gia lao động, sản xuất, phát triển kinh tế, giữ gìn an ninh trật tự, thực hiện tốt cuộc vận động xây dựng đô thị văn minh. Nhờ vậy, góp phần đưa khu dân cư 6 năm liền đạt chuẩn văn hóa. Ông cũng thường xuyên gặp gỡ, hỏi thăm, trao đổi với bà con nhân dân trong khu phố để nắm tình hình tư tưởng, tuyên truyền, vận động mọi người thực hiện tốt quy ước của khu dân cư, thực hiện tốt chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Từ năm 2014, ông đã trực tiếp tham gia hòa giải thành công 48 vụ việc mất đoàn kết trong nội bộ nhân dân và đơn khiếu nại liên quan đến các vụ việc tại địa phương… Không chỉ vậy, với tâm niệm, hỗ trợ tinh thần trong hoạt động nghĩa tình nhằm đem lại những niềm an ủi lớn lao đối với các đối tượng chính sách, hội viên và hộ nghèo. Vì vậy, khi nghe ở đâu có những cảnh đời còn khó khăn, ông đã kêu gọi sự ủng hộ từ các tổ chức, cá nhân, các nhà hảo tâm, doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh cùng chung tay giúp đỡ người nghèo. Song song với việc kêu gọi cộng đồng giúp đỡ cho những gia đình có hoàn cảnh khó khăn, hàng năm, ông Quang còn trực tiếp đến các trường học trên địa bàn nói chuyện, tuyên truyền về truyền thống cách mạng cho giáo viên và học sinh. Ông còn tích cực xây dựng quỹ khuyến học địa phương; vận động bạn bè đóng góp tặng cặp, sách vở, dụng cụ học tập và học bổng cho học sinh trên địa bàn. Với những cống hiến không mệt mỏi, ông được các cấp, các ngành và hội viên ghi nhận. Hàng năm, ông đều đạt danh hiệu đảng viên hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Đặc biệt, ông vinh dự là một trong những điển hình tiên tiến được Hội CCB Việt Nam tặng Bằng khen trong phong trào CCB gương mẫu của TP Bạc Liêu giai đoạn 2014 - 2019. Bảo Linh

Hiệp hội Dệt May Việt Nam đón nhận Cờ thi đua của Chính phủ

TĐKT - Chiều 13/12, tại Hà Nội, Hiệp hội Dệt May Việt Nam (VITAS) tổ chức Lễ kỷ niệm 20 năm và Hội nghị tổng kết 2019. Thủ tướng Chính phủ dự và trao Cờ thi đua của Chính phủ cho VITAS. Được thành lập từ năm 1999, trải qua 20 năm xây dựng và phát triển, VITAS đã tạo được dấu ấn trong việc kết nối cộng đồng các doanh nghiệp trong ngành. Từ chỗ chủ yếu phục vụ nhu cầu trong nước, 20 năm qua, kim ngạch xuất khẩu của ngành dệt may Việt Nam (DMVN) đã tăng lên vài chục lần, dự kiến đạt 39 tỷ USD năm 2019. Thặng dư thương mại từ 185 triệu USD, tăng lên 106,5 lần, dự kiến năm 2019 đạt 17,7 tỷ USD. Với lực lượng lao động khoảng 3 triệu người, dệt may là ngành thu dụng lao động lớn nhất trong các ngành công nghiệp cả nước, góp phần quan trọng giải quyết việc làm, đảm bảo thu nhập cho người lao động, giữ vững trật tự, an toàn xã hội, tăng thu ngân sách cho Nhà nước, các địa phương và chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Thủ tướng Chính phủ đã trao tặng Cờ thi đua của Chính phủ cho Hiệp hội Dệt May Việt Nam Trong 20 năm qua, Hiệp hội đã thực hiện tốt vai trò kết nối giữa các doanh nghiệp trong nước với nhau và với các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài, hình thành chuỗi cung ứng; tổ chức nhiều đoàn xúc tiến thương mại tại các thị trường lớn như Hoa Kỳ, Pháp, Đức, Nga, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc... để mở rộng thị trường xuất khẩu. Tham gia và hoạt động tích cực tại nhiều tổ chức quốc tế lớn chuyên ngành dệt may như ITMF, AFTEX, AFF..., kết nối các doanh nghiệp với nhiều tổ chức và hiệp hội dệt may quốc tế, tranh thủ chuyên gia, kinh nghiệm, kinh phí để mở các lớp đào tạo về kỹ thuật, thiết kế, bán hàng, xây dựng thương hiệu... Đặc biệt, Hiệp hội đã làm tốt vai trò cầu nối giữa các doanh nghiệp dệt may với Chính phủ và các cơ quan quản lý Nhà nước để phản ánh những vướng mắc về cơ chế chính sách, thủ tục hành chính, kiểm tra chuyên ngành, thuế, hải quan, lao động tiền lương, bảo hiểm...; đồng thời tham gia xây dựng chính sách hỗ trợ, tạo thuận lợi thương mại cho doanh nghiệp, tham gia các đoàn đàm phán của Chính phủ về các hiệp định thương mại tự do. Ghi nhận những nỗ lực của Hiệp hội trong suốt 20 năm qua, tại buổi lễ, Thủ tướng Chính phủ đã trao tặng Cờ thi đua của Chính phủ cho Hiệp hội Dệt May Việt Nam. Phát biểu tại buổi lễ, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc đánh giá cao Hiệp hội Dệt May Việt Nam đã làm tốt chức năng, nhiệm vụ của mình, là cầu nối giữa Chính phủ và doanh nghiệp, tích cực và chủ động tham vấn chính sách, nhất là trong đàm phán các Hiệp định thương mại tự do. Thời gian tới, Thủ tướng đặt ra 6 vấn đề với ngành dệt may. Đó là ngành dệt may đã gặt hái nhiều thành công, nhất là xuất khẩu nhưng cần chú trọng hơn, đúng mức hơn tới thị trường gần 100 triệu dân trong nước, nhất là tầng lớp trung lưu đang gia tăng, sẽ chiếm 50% dân số đến năm 2030. Đây chính là hướng phát triển bền vững cho ngành dệt may. Sản phẩm dệt may “made in Việt Nam” không chỉ có mặt ở ngoài nước mà cần ở cả trong nước. Thứ hai, ngành dệt may vẫn chưa thoát khỏi được tình trạng thiếu tự chủ, tự cường về nguyên liệu, chủ yếu chỉ sản xuất sợi và gia công sản phẩm. Hiện nay, 60% nguyên liệu xơ sợi phải nhập khẩu. Việt Nam chưa làm chủ và phát triển được các công đoạn sản xuất như nhuộm, chế tạo các loại vải chất lượng cao, vật liệu, phụ kiện cao cấp. Đó là nguyên nhân khiến giá trị gia tăng chưa cao. Thứ ba, cơ cấu sản phẩm xuất khẩu còn lệch hẳn về may mặc với kim ngạch chiếm tỷ lệ đến 78% tổng kim ngạch của toàn ngành, 28/36 tỷ USD xuất khẩu năm 2018, trong khi đó sợi chỉ chiếm hơn 8% và vải gần 3%, phụ kiện may dưới 10%. Cơ cấu sản phẩm phải tính lại một cách cụ thể hơn để có sự phân công sản xuất tốt hơn. Thứ tư, cơ cấu lao động ngành còn hạn chế. Đến cuối năm 2018, trong gần 3 triệu lao động đang làm việc ở 7.000 doanh nghiệp dệt may trong cả nước thì có khoảng 25% lao động có đào tạo chuyên môn còn lại 75% lao động chưa qua đào tạo, chủ yếu bằng tốt nghiệp trung học cơ sở, trung học phổ thông hoặc có 17% là học tiểu học. Thứ năm, kinh tế nước ta ngày càng phát triển, mức sống của người dân ngày càng được cải thiện. Đó là điều đáng mừng nhưng dưới góc độ khác thì lợi thế cạnh tranh nhân công giá rẻ, vốn là lợi thế cạnh tranh lâu nay của nhiều ngành trong ngành dệt may, đang mất dần. Theo mô hình đàn sếu bay thì lợi thế cạnh tranh này sẽ chuyển sang các nước kém phát triển hơn. Vậy ngành dệt may trong năm tới sẽ phải làm gì để tự nâng mình lên các nấc thang cao hơn trong chuỗi giá trị kinh tế để tiếp tục giữ vững vị trí cường quốc dệt may của thế giới, Thủ tướng đặt vấn đề. Thứ sáu, công tác phát triển Đảng ở các doanh nghiệp dệt may Việt Nam đang bộc lộ những bất cập. Số doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chiếm hơn 70% số doanh nghiệp trong ngành dệt may Việt Nam, có một số nguy cơ trắng các tổ chức Đảng trong doanh nghiệp này. Nhiệm vụ của Hiệp hội chính là làm sao khắc phục được tình trạng này. Trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, ngành cần tận dụng các lợi thế, thời cơ, nhận diện các nguy cơ. Đặc biệt, ngành cần tạo dựng thương hiệu sản phẩm doanh nghiệp, sản phẩm trong khu vực và thế giới, mang lại lợi ích lâu dài. Cụ thể, đến năm 2030 có ít nhất 30 thương hiệu của ngành đóng góp trong thương hiệu dệt may thế giới; đồng thời phấn đấu xuất khẩu đạt kim ngạch 100 tỷ USD. Dệt may phải thuộc tốp đầu của thế giới về sản lượng, chất lượng, doanh số và lao động. Muốn thực hiện điều đó, Thủ tướng cho rằng, ngành dệt may cần có tinh thần tự cường trong phát triển, hướng đến sự phát triển bền vững, thịnh vượng. Hiệp hội cần tiếp tục làm tốt vai trò kết nối giữa các doanh nghiệp, hình thành các chuỗi giá trị gia tăng cao, các chuỗi giá trị toàn cầu, tổ chức phối hợp hoạt động giữa các hội viên vì lợi ích chung của hội, thực hiện đúng tôn chỉ, mục đích, nâng cao năng lực chuyên môn, tham gia các chương trình phát triển kinh tế văn hóa xã hội của đất nước. Cùng với đó, cần chủ động xây dựng nguồn nhân lực, đào tạo, bồi dưỡng nhân tài. Cần phải đẩy mạnh xúc tiến thương mại, phổ biến chính sách, luật pháp, những kinh nghiệm thành công và không thành công. Hiệp hội cũng phải là đầu mối giúp các doanh nghiệp nghiên cứu thị trường, thị hiếu người tiêu dùng, đặc biệt là nghiên cứu công nghệ mới, nhất là lĩnh vực sản xuất vải, phụ liệu, nâng cao năng suất, hiệu quả, sản xuất đi đôi với bảo vệ môi trường… Phương Thanh

Trao giải thưởng L’Oréal – UNESCO Vì sự phát triển phụ nữ trong khoa học

TĐKT - Ngày 12/12, tại Viện Hàn Lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, chương trình Giải thưởng L’Oréal – UNESCO Vì sự phát triển phụ nữ trong khoa học đã trao học bổng cho 3 nhà khoa học nữ xuất sắc năm 2019 với các nghiên cứu tiềm năng; đồng thời vinh danh 32 nhà khoa học nữ xuất sắc đã góp phần thay đổi ngành khoa học Việt Nam trong 10 năm qua. Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch nước Đặng Thị Ngọc Thịnh tới dự. Từ năm 2009, Chương trình L’ORÉAL – UNESCO Vì sự phát triển phụ nữ trong khoa học đã được giới thiệu đến Việt Nam nhằm hướng đến mục tiêu khuyến khích xã hội tận dụng trí tuệ, sự sáng tạo và đam mê của “một nửa thế giới”- nữ giới trong nghiên cứu khoa học. Trong suốt 10 năm qua, chương trình Giải thưởng và học bổng nghiên cứu khoa học dành cho nữ giới này đã vinh danh 32 nhà khoa học nữ xuất sắc Việt Nam từ nhiều tỉnh, thành trong cả nước vì những nghiên cứu được đánh giá là có ý nghĩa khoa học quan trọng, góp phần cải thiện và thay đổi cuộc sống và giúp họ tiếp tục theo đuổi niềm đam mê trong khoa học. Đặc biệt, có 2 tiến sĩ nữ đã được trao giải Nhà khoa học nữ trẻ tài năng thế giới vào năm 2015 và năm 2018 tại Paris qua những thành tựu nổi bật trong nghiên cứu khoa học và có niềm đam mê cống hiến cho nghiên cứu khoa học để mang đến một thế giới tốt đẹp hơn. Phó Chủ tịch nước Đặng Thị Ngọc Thịnh trao Giải thưởng cho 3 nhà khoa học nữ Năm 2019, chương trình L’Oréal - UNESCO Vì sự phát triển phụ nữ trong khoa học đã vinh danh 3 nhà khoa học trẻ xuất sắc trong lĩnh vực Khoa học Vật liệu và Khoa học Đời sống. Tiêu chí chọn lựa được dựa trên thành tích nghiên cứu khoa học nổi bật thông qua số lượng các bài viết được đăng tải trên các tạp chí quốc tế, các ấn phẩm khoa học được xuất bản, các hoạt động nghiên cứu khoa học đã và đang tham gia, vai trò hình mẫu cho các thế hệ nghiên cứu trẻ. Đó là PGS. TS. Hồ Thị Thanh Vân - Trưởng phòng Khoa học Công nghệ và Quan hệ Đối ngoại, Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường, TP Hồ Chí Minh; TS.Trần Thị Hồng Hạnh – Nghiên cứu viên chính, Viện Hóa sinh biển, Viện Hàn Lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam; TS. Phạm Thị Thu Hà – Phó Viện Trưởng Viện Nghiên cứu di truyền và giống, Đại học Tôn Đức Thắng, TP Hồ Chí Minh. Ba nhà khoa học nữ xuất sắc của năm được vinh danh sẽ nhận được học bổng nghiên cứu trị giá 150 triệu đồng, để giúp họ tiếp tục nghiên cứu sâu hơn vào những đề án có tiềm năng phát triển và tạo nên các ảnh hưởng và lợi ích lớn tại Việt Nam. Các nhà khoa học nữ được vinh danh năm 2019 chụp ảnh lưu niệm cùng Phó Chủ tịch nước Đặng Thị Ngọc Thịnh Kỷ niệm 10 năm hoạt động tại Việt Nam, chương trình Giải thưởng và Học bổng L’Oréal - UNESCO Vì sự phát triển phụ nữ trong khoa học lần đầu tiên tổ chức hoạt động giao lưu khoa học với các nữ sinh viên các ngành Khoa học cùng với các nhà Khoa học nữ xuất sắc Việt Nam đã được vinh danh trong 10 năm qua. Đây là cơ hội đặc biệt để các bạn nữ sinh viên ngành Khoa học được học tập về kỹ năng viết đề án khoa học, kỹ năng thực hiện các hồ sơ xin học bổng và giải thưởng khoa học, giao lưu với 32 nhà khoa học nữ hàng đầu Việt Nam để tìm hiểu các thách thức của khoa học thực nghiệm và học hỏi kinh nghiệm, bí quyết của các nhà khoa học nữ xuất sắc trong con đường nghiên cứu khoa học của họ. Chương trình giao lưu đã thu hút nhiều bạn sinh viên các trường đại học có các ngành Khoa học tại thủ đô Hà Nội. Mai Thảo

Nhà hát Kịch nói Quân đội - 65 năm xây dựng, phát triển và trưởng thành

TĐKT - Đoàn Kịch nói Quân đội thành lập ngày 10/1/1955 với tiền thân là Đội kịch Chiến Thắng thuộc Tổng đội Văn công Quân đội, đây là sự kiện đánh dấu sự ra đời của đơn vị nghệ thuật chuyên nghiệp về sân khấu kịch nói đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam. Ngày 2/2/2010, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng đã ký Quyết định số 295/QĐ-BQP thành lập Nhà hát Kịch nói Quân đội trực thuộc Tổng cục Chính trị trên cơ sở Đoàn Kịch nói Quân đội. Lễ đón nhận Huân chương Bảo vệ Tổ quốc hạng Ba Trong suốt 65 năm xây dựng và trưởng thành, Nhà hát Kịch nói Quân đội đã trải qua cuộc hành trình hơn nửa thế kỷ đầy khó khăn, thử thách nhưng cũng đầy vinh quang và tự hào. Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo về mọi mặt của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng trực tiếp và thường xuyên là sự lãnh đạo, chỉ đạo về mọi mặt của Đảng ủy cơ quan và Thủ trưởng Tổng cục Chính trị. Nhà hát Kịch nói Quân đội đã dàn dựng hơn 130 chương trình, vở diễn có nội dung, tư tưởng sâu sắc, chất lượng nghệ thuật cao, kịp thời biểu diễn hàng vạn đêm, phục vụ hàng triệu lượt công chúng, khán giả trong và ngoài quân đội. Nhà hát đã trở thành một trong những đơn vị tiên phong trong công tác tuyên truyền đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, đấu tranh với các tư tưởng, văn hóa xấu độc, phản động, góp phần xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị. Các vở diễn của Nhà hát đã góp phần nâng cao tính giáo dục, tính thẩm mỹ cho khán giả trong và ngoài quân đội, trong các cuộc kháng chiến, trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, thời kỳ hội nhập phát triển đất nước; xứng đáng với danh hiệu nghệ sĩ - chiến sĩ trên mặt trận văn hóa tư tưởng của Đảng. Nhà hát đã có những nỗ lực, giải pháp để có sự phát triển đồng bộ xứng đáng với truyền thống xây dựng, phát triển và trưởng thành. Chú trọng đầu tư và nâng cao cơ sở vật chất, trang thiết bị, đặc biệt phát triển nguồn nhân lực đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới; định kỳ mở trại sáng tác về đề tài lực lượng vũ trang, chiến tranh cách mạng, Bộ đội Cụ Hồ, đặc biệt xây dựng hình tượng người lính ngày hôm nay thu hút nhiều tác giả trong và ngoài quân đội tham gia; thường xuyên tổ chức các chương trình tập huấn trong và ngoài nước nhằm nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ diễn viên, nhân viên kỹ thuật. Trong 5 năm trở lại đây (2015 - 2019), Đảng ủy, Ban Giám đốc Nhà hát quan tâm đặc biệt đến sự phát triển đội ngũ diễn viên trẻ. Tạo điều kiện để các em được thể hiện tài năng với nhiều vai diễn lớn, được tham gia nhiều cuộc thi và giành giải thưởng. Đến nay, Nhà hát Kịch nói Quân đội đã có đội ngũ diễn viên say mê với nghề, làm việc nghiêm túc, tâm huyết, sẵn sàng là lực lượng kế cận các nghệ sĩ đàn anh đi trước. Nhờ đó, các vở diễn vẫn luôn ghi dấu ấn sâu đậm trong lòng công chúng, bộ đội và nhân dân trên khắp mọi miền của Tổ quốc và giành được nhiều giải thưởng cao như: Những người lính trận (Huy chương bạc Liên hoan Nghệ thuật sân khấu Toàn quốc về "Hình tượng người chiến sĩ CAND" lần thứ 3 năm 2015); Tóc mây Lèn Hà (HCB Cuộc thi Nghệ thuật sân khấu kịch nói chuyên nghiệp Toàn quốc năm 2015); Dưới cát là nước (HCV Liên hoan Quốc tế Sân khấu Thử nghiệm lần thứ 3 năm 2016); Đứa con của đồng đội (Huy chương vàng và Bằng khen tác phẩm xuất sắc về chủ đề “Tình đoàn kết hữu nghị quốc tế trong Hội diễn nghệ thuật chuyên nghiệp toàn quân năm 2018; Khi con tốt sang sông (HCB Liên hoan Kịch nói toàn quốc 2018; Giải B, Giải thưởng vở diễn xuất sắc của Hội NSSKVN năm 2019); Mùa hoa sữa (HCV Liên hoan Sân khấu Thủ đổ lần thứ 3 - 2018); Ký ức lửa (Giải xuất sắc về đề tài lực lượng vũ trang, chiến tranh cách mạng trong Hội diễn nghệ thuật chuyên nghiệp toàn quân năm 2018)... Đúng vào dịp kỷ niệm 72 năm Ngày Chiến thắng Phát-xít Đức, tại Moscow, Liên bang Nga năm 2017, Nhà hát đã có chuyến lưu diễn theo lời mời của Bộ Quốc phòng Nga với hai vở diễn “Và nơi đây bình minh yên tĩnh”, “Dưới cát là nước” tại Nhà hát Hàn lâm Trung ương Quân đội Nga để lại những ấn tượng tốt đẹp về hình ảnh người nghệ sĩ - chiến sĩ Nhà hát Kịch nói Quân đội trong lòng những người bạn đồng nghiệp Nga và cộng đồng người Việt đang học tập, sinh sống và làm việc tại Liên Bang Nga. Trong 65 năm qua, cán bộ, nghệ sĩ, diễn viên các thế hệ đã góp phần làm nên những thành tựu đáng tự hào của Nhà hát Kịch nói Quân đội: Được Đảng, Nhà nước, Quân đội phong tặng danh hiệu cao quý Đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân; 8 Huân chương Quân công, Lao động, Chiến công các loại; hàng chục Huy chương vàng, bạc và bằng khen của các đơn vị (quân khu, quân binh chủng) và địa phương (tỉnh, thành phố) dành cho tập thể đoàn diễn; 1 đồng chí được tặng giải thưởng Hồ Chí Minh. 2 đồng chí được tặng giải thưởng Nhà nước, 4 diễn viên được tặng danh hiệu Nghệ sĩ Nhân dân, 32 nghệ sĩ được tặng danh hiệu Nghệ sĩ Ưu tú, 77 lượt diễn viên được tặng với 173 Huy chương vàng, bạc và nhiều bằng khen, giấy khen trong các hội diễn, liên hoan, cuộc thi sân khấu toàn quân, toàn quốc. Nhiều đồng chí được tặng thưởng huân chương, huy chương các loại trong cuộc kháng chiến và trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Nhà hát Kịch nói Quân đội luôn quán triệt sâu sắc quan điểm của Đảng ta về đường lối văn hóa văn nghệ trong thời kỳ mới, giữ vững định hướng trong sáng tác và dàn dựng các tác phẩm về đề tài lực lượng vũ trang, chiến tranh cách mạng, đặc biệt chú trọng xây dựng hình tượng Bộ đội Cụ Hồ trong cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, cũng như trong cuộc đấu tranh xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới, góp phần xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại. Mai Hương  

Nữ cán bộ Hội xây dựng nét đẹp văn hóa từ cơ sở

TĐKT - Tuyến đường về tổ dân phố số 4, phường Khương Trung, quận Thanh Xuân hôm nay như được khoác trên mình chiếc áo mới với những chậu cây cảnh xanh mát, những chậu hoa rực rỡ sắc màu. “Đường hoa phụ nữ” là thành quả, tâm huyết của bà con nhân dân và chị em phụ nữ tổ dân phố số 4 thời gian qua, với mong muốn xây dựng môi trường cảnh quan xanh - sạch - đẹp cho khu dân cư. Trong đó, có phần đóng góp công sức không nhỏ của Chi hội trưởng phụ nữ Trần Thị Thu. Chi hội trưởng phụ nữ Trần Thị Thu tự tay chăm sóc “Đường hoa phụ nữ” khu dân cư số 4 Thiết thực triển khai xây dựng “Tổ dân phố 5 không”, cách đây 3 tháng, được sự gợi ý của chi bộ, tổ dân phố, Chi hội trưởng phụ nữ Trần Thị Thu đã khởi xướng và quyết tâm vận động bà con nhân dân cùng chị em chung tay làm “Đường hoa phụ nữ”. Kinh phí do phường, tổ dân phố và chi hội phụ nữ đóng góp. Bà đã tới gõ cửa từng nhà vận động chị em hội viên góp công, góp sức, góp cây để hoàn thành tuyến đường. Chỉ sau 2-3 ngày, tuyến đường đã được khánh thành trong niềm vui sướng, tự hào của bà con khu dân cư, mang lại không gian xanh mát, thoáng đãng. Các chị em có nhà dọc tuyến đường hoa thay nhau chăm tưới, cắt tỉa cho cây. “Đường hoa phụ nữ” chỉ là một trong số nhiều mô hình, việc làm tiêu biểu mà bà Trần Thị Thu đã triển khai thực hiện từ khi đảm nhận nhiệm vụ Chi hội trưởng Chi hội 4. Đến giờ bà vẫn nhớ như in những ngày đầu nhận nhiệm vụ. Bà nhận việc hôm trước, hôm sau đã nhận cả đống giấy tờ điều lệ, công văn, chỉ thị, nghị quyết, kế hoạch hoạt động từ Hội Liên hiệp phụ nữ (LHPN) phường gửi tới. Từ lập danh sách hội viên theo từng cột mục đến vận động chị em tự nguyện tham gia hội; từ phân công chị em thành từng tổ theo địa bàn dân cư đến tổ chức sinh hoạt hàng tháng, hàng quý, tổ chức các sự kiện như tham quan, du lịch, kỷ niệm các ngày 8/3, 20/10…; tuyên truyền, vận động chị em thực hiện chức năng, nhiệm vụ được ghi trong Điều lệ Hội, hưởng ứng các phong trào thi đua do các cấp Hội phát động… Núi công việc đồ sộ của cái nghề “vác tù và hàng tổng” khi ấy khiến bà không khỏi ngỡ ngàng. Với suy nghĩ đã không làm thì thôi, còn đã làm thì phải làm cho đến nơi đến chốn, bà nhanh chóng bắt tay vào công việc. Trên cơ sở danh sách chị em phụ nữ do Chi hội trưởng cũ để lại, bà lặn lội đến từng gia đình điều tra, rà soát, bổ sung danh sách cho đầy đủ. Bà kể: “Có đi mới biết, gặp được người thật khó. Chị em nào nghỉ hưu còn dễ, đến nhà có thể gặp được ngay. Nhưng với các chị em đang còn đi làm thì năm lần bảy lượt tìm tới may ra tôi mới gặp được. Có chị còn ở tít trên tầng 5, tầng 10, leo cầu thang bở hơi tai, lên đến nơi lại vắng, mệt mỏi và thất vọng.” Bà chia sẻ: Những ngày đầu, vận động chị em tham gia làm công tác Hội khó lắm. Người lấy lý do bận kinh doanh, người bảo bận làm nội trợ, người ngại va chạm, muốn an phận thủ thường. Những lúc như thế, bà phải kiên trì, khéo léo thuyết phục để chị em đồng thuận, nhận lời. Nhiều ngày mải việc chi hội, không kịp nấu cơm, đón cháu đúng giờ, bà chỉ biết cười trừ làm lành với chồng con. Cũng phải đến cả tháng bà mới đến được hết mọi nhà. Rồi cũng từng đó thời gian, bà mới vận động được một số chị em làm chi hội phó, làm tổ trường của 4 tổ phụ nữ và 4 tổ tự quản đường ngõ, giữ gìn vệ sinh môi trường, bóc xóa quảng cáo. Bà Trần Thị Thu luôn gần gũi, quan tâm, động viên hội viên chị em phụ nữ trong khu dân cư Để chị em tin yêu và làm theo, bà luôn miệng nói tay làm, nêu gương người đứng đầu với một suy nghĩ đơn giản: Mình làm trước mới rủ được người khác cùng làm. Bà kiên trì vận động chị em tham gia các phong trào “ Người tốt việc tốt”, triển khai mô hình điểm “Tổ dân phố 5 không”; xây dựng mô hình ngõ phố “sáng - xanh - sạch - đẹp”; tuyên truyền vận động nhân dân trong tổ tham gia thực hiện nếp sống văn minh, trật tự đô thị, gia đình hiếu học và phong trào “Phụ nữ giỏi việc nước, đảm việc nhà”; tuyên truyền thực hiện chương trình kế hoạch hóa gia đình, vị thành niên, thanh niên… Chỉ nói riêng việc phụ nữ tham gia giữ gìn vệ sinh đường ngõ, xây dựng môi trường xanh - sạch – đẹp, bà không chỉ phân công, nhắc nhở các tổ phụ nữ, nhắc nhở hội viên mà còn tự tay cầm chổi, cầm xẻng, vừa quét, vừa hót rác, vừa kêu gọi chị em tham gia quét dọn hàng sáng, hàng tuần. Những hành động nêu gương của bà đã lôi cuốn nhiều người tham gia, làm chuyển biến đáng kể ý thức giữ gìn vệ sinh môi trường ở khu dân cư. Để lãnh đạo chi hội phụ nữ khu dân cư số 4 đoàn kết, tương thân tương ái, bà đã tìm đến với những gia đình có hoàn cảnh đặc biệt, những chị em phụ nữ không may mắn để động viên, vận động, kêu gọi các nhà hảo tâm giúp đỡ họ cả về tinh thần và vật chất. Nhờ công sức của bà, khu dân cư số 4 phường Khương Trung luôn đi đầu trong việc triển khai thực hiện các nhiệm vụ do Hội LHPN phường, Quận Hội và Hội LHPN thành phố phát động. Không chỉ là Chi hội trưởng phụ nữ gương mẫu, bà còn là Trưởng Tiểu ban chăm sóc thiếu niên nhi đồng của khu dân cư. Cứ mỗi dịp hè về, tối nào bà cũng đi từng nhà xin phép các bậc phụ huynh cho con cháu tham gia vào đội múa, đội hát, đồng diễn thể dục… Ăn vội lưng cơm tối, bà lại tất tả đôn đốc, hướng dẫn các cháu tập múa hát tới khuya mới về. Không quản những ngày mưa gió, bà mượn ô, đưa các cháu về tận nhà. Bởi thế, nhiều phụ huynh sẵn sàng tin tưởng giao phó con em họ cho bà quản lý trong dịp hè. Trong quá trình sinh hoạt, bà luôn nhẹ nhàng nhắc nhở, khuyên nhủ, dỗ dành, uốn nắn, chăm sóc các cháu từng ly từng tí như con cháu ruột của mình. Cứ thế, hình ảnh một bà Thu nhân hậu, tươi vui, vừa múa dẻo, hát hay lại hết lòng yêu thương con trẻ đã đọng lại trong ký ức tuổi thơ lung linh của các cháu nhỏ tổ dân phố số 4. Với nhiều việc làm ý nghĩa, Chi hội trưởng phụ nữ Trần Thị Thu luôn được bà con nhân dân, chị em trong khu dân cư tin yêu, quý mến. “Bà Thu là một cán bộ nhiệt tình, việc gì bà cũng hăng hái đi đầu, đặc biệt là việc giữ gìn vệ sinh của tổ dân phố. Không những thế, bà luôn quan tâm, gần gũi, động viên các chị em trong khu dân cư đoàn kết, giúp nhau vượt khó.” - Bà Trịnh Thị Liên, số nhà 24, ngách 97/16 cho biết. Ông Nguyễn Văn Hùng, Tổ trưởng Tổ dân phố số 4, phường Khương Trung cũng nhắc tới bà Thu với tình cảm trân trọng: “Từ khi tham gia công tác Hội tại khu dân cư, bà Thu luôn thể hiện là người tích cực, xông xáo, năng nổ, việc gì cũng làm, không ngại khó, ngại khổ. Bà là tấm gương sáng để mọi người học tập, noi theo.” Phương Thanh

2G - Sáng kiến giảm nghèo của người Mường ở Ái Thượng

TĐKT - Từ 4 năm nay, được sự hướng dẫn của Hội Làm vườn huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa, chị Trương Thị Thủy cùng các hộ dân tộc Mường ở xã Ái Thượng đã cải tạo vườn tạp, đầu tư làm giàn trồng gấc ở trên và trồng gừng ở dưới (mô hình 2G). Không tốn công đầu tư, giống, phân bón, việc chăm sóc đơn giản mà cho giá trị, hiệu quả lớn gấp 3 - 4 lần so với trồng lúa, mô hình 2G này giúp người dân tộc Mường xã Ái Thượng không chỉ thoát nghèo mà còn vươn lên làm giàu chính đáng. Chị Trương Thị Thủy, Giám đốc HTX Nông dược Bá Thước Là một trong những người tiên phong triển khai mô hình, chị Trương Thị Thủy, Giám đốc Hợp tác xã Nông dược Bá Thước chia sẻ: “Tôi chọn mô hình 2G để làm vì thấy mô hình phù hợp với mọi lứa tuổi, đặc biệt là chị em phụ nữ. Nhiều chị em trong địa phương nhà nghèo, không có đất bãi nên chọn trồng gừng, gấc để có thể tận dụng, cải tạo được vườn tạp xung quanh nhà, đất rừng còn bỏ trống, không cần đầu tư ban đầu nhiều, lại dùng được chất thải nông nghiệp làm phân vi sinh bón cho cây.” Khi bắt tay vào thực hiện dự án, chị gặp rất nhiều khó khăn. Dự án chỉ hỗ trợ người dân kỹ thuật cải tạo vườn tạp cũng như cung cấp những kiến thức cơ bản để trồng gừng, gấc, không hỗ trợ về phân bón và giống. Người dân có nhu cầu mua giống, phân bón sẽ được giới thiệu đơn vị cung cấp đạt chất lượng. Sản phẩm sản xuất ra có công ty thu mua. Thời gian đầu, vì ngại thay đổi và chưa tin tưởng vào mô hình mới nên chưa có nhiều hộ gia đình tham gia. Chị Thủy kể: “Ban đầu đem mô hình về, chưa có nhiều chị em tin tưởng và ủng hộ; có chị em tham gia dự án nhưng lại chưa quan tâm mấy, vậy nên hiệu quả chưa cao. Nhưng mình vẫn quyết tâm hướng dẫn cho họ, lâu dần cũng có nhiều người tin tưởng và cam kết tham gia hơn.” Tuy nhiên, những thử thách về đầu ra khiến tổ trưởng Trương Thị Thủy không thôi trăn trở: “Có sức người nhưng chọn quy mô như thế nào cho phù hợp, hợp đồng đầu ra như thế nào? Lớn quá thì người dân không kham nổi, mà ít quá thì chỉ túc tắc, không đem lại hiệu quả kinh tế như mong đợi.” Khi ấy, mặt hàng gấc được bao tiêu đầu ra nhưng diện tích đất canh tác có hạn nên các chị chưa trồng thêm nhiều. Đối với gừng, chị tìm được một công ty tại Hà Nội sẵn sàng ký kết hợp đồng nhưng vì không đáp ứng đủ sản lượng đơn vị yêu cầu nên không thể ký kết được, các chị phải quay ra bán lẻ gừng cho các mối nhỏ. Không nản lòng, chị không ngừng tìm kiếm những hướng đi bền vững và lâu dài cho dự án, giúp cải thiện phần nào đời sống cho chị em trong thôn.   Chị Trần Thị Hoa, Giám đốc Trung tâm Hỗ trợ Phát triển Xanh (GreenHub) cùng chị Trương Thị Thủy tại vườn gấc - gừng, Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa. Chị Thủy cho biết, quy trình trồng gấc, gừng rất đơn giản, ít chăm sóc, không tốn giống, không cần bón phân nhiều. Như cây gấc trồng 1 lần nhưng cho thu hoạch trong 5 - 6 năm. Nhiều hộ gia đình được hướng dẫn làm phân vi sinh từ chất thải gia súc, rác thải nông nghiệp để bón cho gấc, gừng. Đồng thời, các hộ dân đã biết sơ chế gấc để bán. Riêng phần hạt được sơ chế để làm thuốc xoa bóp, còn vỏ quả để làm phân vi sinh. Nhờ khí hậu, thổ nhưỡng phù hợp, lại sẵn đất vườn, vụ thu hoạch đầu tiên mang lại hiệu quả lớn gấp 3 - 4 lần so với trồng lúa, giúp một số hộ thoát nghèo và có thể làm giàu. Chỉ sau một thời gian ngắn, nhìn thấy rõ hiệu quả của mô hình, nhiều hộ nông dân huyện Bá Thước đã học tập và làm theo. Từ mô hình này, Hợp tác xã Nông dược Bá Thước được thành lập với mục đích làm đầu mối bao tiêu sản phẩm giúp hàng chục hộ gia đình trong huyện thoát nghèo. Hiện nay sản phẩm gấc của bà con được cung ứng cho Công ty Vinaga, còn gừng thì được Công ty Trí Đức nhận tiêu thụ. Nguyệt Hà

Viện Khoa học thủy lợi Việt Nam đón nhận Huân chương Hồ Chí Minh

TĐKT - Sáng 3/12, tại Hà Nội, Viện Khoa học thủy lợi Việt Nam long trọng tổ chức Lễ kỷ niệm 60 năm thành lập (1959 - 2019) và đón nhận Huân chương Hồ Chí Minh. Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân dự và phát biểu ý kiến. Cùng dự có các Ủy viên Trung ương Đảng: Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường Phan Xuân Dũng; Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Nguyễn Xuân Cường; Phó Trưởng Ban thường trực Ban Kinh tế Trung ương Cao Đức Phát... Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân trao Huân chương Hồ Chí Minh tặng Viện Khoa học thủy lợi Việt Nam Tháng 11/1959, Chính phủ ban hành Nghị định thành lập Học viện Thủy lợi - tiền thân của Viện Khoa học thủy lợi ngày nay. Trong 60 năm qua, Viện Khoa học thủy lợi Việt Nam đã nỗ lực không ngừng để trở thành cơ quan nghiên cứu với nhiều chuyên gia hàng đầu trong lĩnh vực thủy lợi. Các hoạt động nghiên cứu khoa học của Viện luôn bám sát chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, cũng như yêu cầu thực tiễn phát triển nông nghiệp ở Việt Nam, đóng góp thiết thực cho việc ổn định sản xuất và đời sống của nhân dân, phục vụ cơ cấu lại ngành nông nghiệp, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của đất nước. Đặc biệt trong những năm gần đây, các nhiệm vụ nghiên cứu của Viện được hình thành có định hướng thành các cụm nhóm nhiệm vụ để giải quyết toàn diện, đồng bộ những vấn đề lớn của thực tiễn đang đặt ra như: Vấn đề sạt lở ở đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), vấn đề công nghệ cấp nước sinh hoạt cho vùng núi cao, vùng khan hiếm nước, vấn đề hạn hán, xâm nhập mặn ở ĐBSCL, Nam Trung Bộ và Tây Nguyên, vấn đề an ninh nguồn nước, an toàn hồ đập và hạ du... Nhờ đó các sản phẩm khoa học công nghệ của Viện đã đáp ứng các yêu cầu của thực tế phục vụ hiệu quả cho công tác quy hoạch, quản lý điều hành của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, các địa phương. Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân phát biểu tại Lễ kỷ niệm Phát biểu tại Lễ kỷ niệm, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân chúc mừng và đánh giá cao những đóng góp, cống hiến của Viện Khoa học thủy lợi Việt Nam cho sự nghiệp xây dựng, phát triển của ngành thủy lợi nói riêng và lĩnh vực nông nghiệp, phát triển nông thôn nói chung. Trong đó, phải kể đến những đóng góp trong việc xây dựng, khôi phục, nâng cấp và bảo vệ các hệ thống thủy lợi, nhất là hệ thống đê điều ở miền Bắc; xây dựng các công trình thủy lợi trên nền đất yếu vùng đồng bằng sông Cửu Long để cải tạo đất chua phèn, kiểm soát mặn, đưa vùng này trở thành vựa lúa, vùng trồng cây ăn trái và nguồn cung cấp thủy sản quan trọng cho cả nước như ngày nay. Tác động của biến đổi khí hậu đã hiện hữu ở nhiều quốc gia trên toàn thế giới, đặt ra các yêu cầu, nhiệm vụ khó hơn đối với lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn, cũng như ngành thủy lợi, trong đó có Viện Khoa học thủy lợi Việt Nam nhằm bảo đảm an ninh lương thực và phục vụ sản xuất nông nghiệp hàng hóa, góp phần phát triển kinh tế - xã hội bền vững, xóa đói giảm nghèo; đồng thời, chủ động phòng, chống và giảm nhẹ thiệt hại do thiên tai gây ra, từng bước thích ứng với biến đổi khí hậu và nước biển dâng… Để hoàn thành các nhiệm vụ đặt ra, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân lưu ý Viện Khoa học thủy lợi Việt Nam cần tiếp tục quán triệt, bám sát đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nhất là những yêu cầu, chính sách của Luật Thủy lợi và các Luật thuộc ngành, lĩnh vực để nghiên cứu, tham mưu cho Bộ giúp Chính phủ chỉ đạo, điều hành hiệu quả, thực hiện thắng lợi các chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội nói chung và lĩnh vực nông nghiệp, phát triển nông thôn nói riêng, bảo đảm phát triển bền vững nền nông nghiệp hàng hóa. Tập trung nghiên cứu, giải quyết hiệu qủa những vấn đề đặt ra trong bối cảnh biến đổi khí hậu diễn ra nhanh chóng ở Việt Nam để cung cấp kịp thời các luận cứ khoa học giúp cho việc hoạch định chính sách về nông nghiệp nói chung và thủy lợi nói riêng, nhất là tăng cường nghiên cứu, ứng dụng, nâng cao năng lực dự báo, cảnh báo và đề xuất giải pháp kỹ thuật, công nghệ để ứng phó hiệu quả trước các tác động của biến đổi khí hậu ngày càng cực đoan, khó lường; đồng thời, vừa giải quyết tốt yêu cầu cấp, thoát nước cho nông nghiệp trước mắt, vừa bảo đảm an ninh nguồn nước lâu dài cho phát triển kinh tế bền vững. Với vai trò là Viện nghiên cứu lớn trực thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Viện cần tích cực phát triển các mối quan hệ hợp tác nghiên cứu với các cơ sở nghiên cứu khoa học của ngành nông nghiệp để có những nghiên cứu mang tính tổng thể, hệ thống, góp phần giải quyết cơ bản và bền vững những vấn đề trong phát triển nông nghiệp và phải trở thành đơn vị đi đầu của ngành về phát triển khoa học công nghệ thủy lợi trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4. Chủ động, tích cực hơn trong việc giới thiệu và đưa các kết quả nghiên cứu áp dụng rộng rãi, phấn đấu có nhiều đơn vị trực thuộc Viện trở thành những đơn vị tự chủ về tài chính. Cần chú trọng nâng cao chất lượng nghiên cứu, kết hợp nghiên cứu hàn lâm với nghiên cứu triển khai, tiếp tục hoàn thiện các công nghệ đã được nghiên cứu, ứng dụng, nhất là các công nghệ dễ áp dụng vào thực tiễn. Hiện đại hóa cơ sở vật chất đi đôi với việc xây dựng, củng cố đội ngũ nghiên cứu viên, nâng cao năng lực công bố quốc tế, tiếp tục mở rộng và tăng cường hiệu quả hợp tác với các cơ sở nghiên cứu, đào tạo của các nước trên thế giới, sẵn sàng tiếp cận, làm chủ công nghệ mới, tiên tiến, hiện đại để từng bước đưa Viện trở thành một trung tâm nghiên cứu khoa học thủy lợi lớn, có uy tín không chỉ của Việt Nam mà trong khu vực và trên thế giới. Tích cực tham gia các dự án, công trình nghiên cứu lớn để giải quyết những vấn đề có tầm cỡ khu vực và thế giới… Tại Lễ kỷ niệm, thay mặt lãnh đạo Đảng và Nhà nước, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân đã trao Huân chương Hồ Chí Minh cho Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam. Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Nguyễn Xuân Cường trao Huân chương Lao động hạng Nhì cho 4 cá nhân và Huân chương Lao động hạng Ba cho 3 cá nhân thuộc Viện Khoa học thủy lợi Việt Nam. Nguyệt Hà

Trang